Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Ơ 1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng 1. Khái niệm về sinh trưởng Sinh trưởng là quá trình diễn ra đồng thời liên tục trong cơ thể động vật cũng như trong gia cầm. Có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm sinh trưởng: Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng.
Tuy nhiên, cũng có khi tăng khối lượng không phải tăng trưởng. Sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng và các chiều của các tế bào mô cơ [16]. Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác [23].
“Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước” [11]. Sinh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể. Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn.
Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm 1. Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền của dòng, giống tới sinh trưởng Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của cơ thể gia súc, gia cầm. Có gen ảnh hưởng đến sự phát 3 c triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ, sự khác nhau về khối lượng cơ thể gia cầm là rất lớn [10]. Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể còn do yếu tố tính biệt quy định.
Chim đực bé hơn chim mái. Biến dị di truyền về tốc độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính, những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao [30]. Đối với gia cầm để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi cần tách và nuôi riêng theo giới tính. Người ta thường phân biệt giới tính chim cút sau 2 tuần tuổi khi các khác biệt về giới tính bắt đầu được biểu lộ.
Cùng với tính biệt, tốc độ mọc lông cũng ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng sinh trưởng của chim cút. Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã xác định trong một giống. cùng tính biệt những cá thể nào có tốc độ mọc lông nhanh đồng thời cũng có khả năng nhanh và phát triển nhanh. Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn.
Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính [1]. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng tới sinh trưởng Dinh dưỡng là một khâu rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Chế độ dinh dưỡng không những có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sinh trưởng mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng. Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy tiềm năng di truyền về sinh trưởng.
Tương quan giữa tăng trọng của chim cút và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao. Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, axít amin và năng lượng. Do vậy, khẩu phần thức ăn cho chim cút 4 c phải được tính toán cân đối trên cơ sở nhu cầu đinh dưỡng của gia cầm và đây là một trong những vấn đề cơ bản. Để phát huy khả năng sinh trưởng của chim cút cần phải cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lượng [23].
Thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của gia súc, gia cầm. Cho ăn khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng theo từng giai đoạn sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát dục. Ngược lại, nếu thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng thì quá trình sinh trưởng sẽ chậm lại [11]. Như vậy, thông qua cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu của một số nhà chuyên môn, có thể nói chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng khá lớn đối với khả năng sinh trưởng của chim cút.
Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ tới sinh trưởng Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm. Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh. Nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh phát triển ảnh hưởng đến sức khỏe của gia cầm. Trong các giai đoạn sinh trưởng của chim cút thì giai đoạn chim non là giai đoạn chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất về nhiệt độ.
Nhiệt độ của môi trường khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau trong năm thì mức độ tiêu thụ thức ăn của chim cút cũng khác nhau. Nhiệt độ quá cao làm cho chim cút sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn. Giữa nhiệt độ môi trường và nhu cầu năng lượng của gia cầm có mối tương quan nghịch. Trong điều kiện khí hậu nước ta, chim cút nuôi vụ hè cần phải tăng mức ME và CP cao hơn vụ xuân 10 – 15%.
Điều đó lí giải như sau: Khi nhiệt độ môi trường cao, khả năng thu nhận thức ăn của gia cầm giảm. 5 c Do đó, căn cứ vào nhiệt độ môi trường của từng giai đoạn mà ta có thể điều chỉnh thức ăn và kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng cho phù hợp. Do vậy, trong điều kiện khí hậu nước ta, căn cứ vào nhiệt độ môi trường từng giai đoạn, tuỳ mùa vụ mà ta điều chỉnh chế độ thức ăn, nước uống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng cho phù hợp. Nhiệt độ thích hợp đối với chim cút non Tuần tuổi Nhiệt độ (0C) Thời gian chiếu sáng/ngày 0–1 34 – 35 24 giờ 1–2 32 – 33 Ban đêm hoặc trời lạnh 2–3 30 – 31 Ban đêm hoặc trời lạnh 3–4 28 – 29 Ban đêm hoặc trời lạnh 4–5 28 – 29 Ban đêm hoặc trời lạnh 1.
Ảnh hưởng của yếu tố ẩm độ và độ thông thoáng tới sinh trưởng Ẩm độ cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm. Ẩm độ của không khí quá cao sẽ ảnh hưởng không tốt đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm, do chuồng trại luôn ẩm ướt, lượng khí độc sinh ra nhiều, thức ăn ẩm mốc là môi trường thuận lợi để vi khuẩn, nấm mốc gây bệnh phát triển. Nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao chim non dễ mất nhiệt cảm lạnh và ngược lại nhiệt độ cao, độ ẩm cao làm cho gia cầm thải nhiệt khó khăn dẫn đến bị chết. Nước ta là một nước nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều.
Do đó chúng ta phải luôn giữ được độ thông thoáng trong chuồng nuôi nhằm giảm ẩm độ, tăng cường lượng khí O2 được thuận lợi, đảm bảo cho quá trình sinh trưởng của chim cút và giảm khả năng gây bệnh. Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì chim cút rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm. Theo nguyên tắc thì thời gian chiếu sáng sẽ làm tăng lượng thức ăn tiêu thụ, kích thích cho cơ thể phát triển nhưng lại làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn. Rút ngắn thời gian chiếu sáng sẽ có tác dụng ngược lại.
Do vậy việc điều chỉnh thời gian chiếu sáng sao cho phù hợp là rất cần thiết. Thời gian chiếu sáng thích hợp cho chim cút ở từng độ tuổi (giờ) Giờ chiếu sáng Tuần trong một ngày Phương pháp Mục đích tuổi (giờ) Ban đêm, trời lạnh, Để cung cấp nhiệt và 0 – 1 24 mưa để chim non ăn được nhiều Ban đêm, trời lạnh, Cung cấp nhiệt và cho 1 –2 24 mưa chim ăn Ban đêm nhưng thời Hạn chế sự phát dục 2 – 3 16 gian giảm bớt (đẻ) sớm Không chiếu sáng vào Hạn chế đẻ sớm 3 – 4 12 ban đêm Không chiếu sáng vào Hạn chế đẻ sớm 4 – 5 12 ban đêm 1. Vài nét về chim cút 1. nguồn gốc, vị trí phân loại chim cút Chim cun cút, gọi tắt là chim cút, có nguồn gốc ở châu Á, chúng sống thích hợp ở những vùng khí hậu ấm áp và hơi nóng.
Lần đầu tiên giống này 7 c được thuần hoá ở Nhật bản từ thế kỷ thứ XI. Lúc đầu người ta thuần hoá chúng để nuôi như một loài chim cảnh và chim hót, mãi đến năm 1900, cút Nhật bản mới được nuôi để lấy thịt và trứng ăn, sau đó nhanh chóng lan sang nhiều nước trên thế giới. Phân loại khoa học: Chim cút thuộc giới (regnum): Động vật (Animalia). Chim cút có nhiều giống khác nhau, chuyên thịt hoặc chuyên trứng, có giống chuyên nuôi để phục vụ săn bắn, như giống cút Bobwhile, có giống nuôi để làm cảnh, nghe hót như giống cút Singing quail.
Ở châu Mĩ có nhiều giống, nhưng nuôi để lấy thịt và trứng thì chủ yếu vẫn là chim cút Nhật Bản tên khoa học là “Corturnix japonica”. có đặc điểm dễ nuôi, sức kháng bệnh cao, đẻ nhiều trứng và thời gian khai thác dài. Kích thước cơ thể từ 155- 240 gam, chim đực nhỏ hơn chim mái, biết gáy, chim cút đực khi trưởng thành có một u lồi ở hậu môn đây là những đặc điểm để phân biệt chim cút đực và chim cút mái. Chim cút mái đẻ nhiều trứng (300 - 340 trứng/ năm), chim mái bắt đầu đẻ trứng từ 39 - 40 ngày, thời gian ấp nở của trứng cút là 16 ngày.
Cút con mới nở tương đối cứng cáp, chúng có nhu cầu sưởi ấm cao hơn gà, vịt. Nuôi cút con tới 25 ngày tuổi thì thay khẩu phần bằng thức ăn nuôi cút thịt. Cút thịt nuôi đến 40- 45 ngày tuổi có thể bán, nặng 120 - 160g.