Đặt vấn đề Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của Việt Nam đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng. Nạn phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ, củi và các nguồn tài nguyên rừng khác vẫn thường xuyên xảy ra phá hủy sự cân bằng của nhiều hệ sinh thái và môi trường tự nhiên. Mặc dù đã được quan tâm nhưng ở một số Khu bảo tồn vẫn chưa có các chính sách cụ thể để bảo tồn và phát triển các loài động thực vật quý hiếm nhưng hoạt động khai thác gỗ củi và lâm sản trái phép vẫn thường xuyên diễn ra. Điều đó đã có ảnh hưởng xấu đến tính đa dạng sinh học, nhất là đối với các loài quý hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng và các loài có vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái rừng trong các khu bảo tồn.
Các loài cây có nguy cơ tuyệt chủng cao và có nhiều lợi ích cho nghiên cứu khoa học và cuộc sống của con người có phân bố trong tự nhiên ngày một bị thu hẹp, số lượng cá thể bị suy gảm nghiêm trọng do con người khai thác sử dụng một cách quá mức đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao. Chính vì vậy việc bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ hàng đầu trong nghiên cứu đa dạng sinh học trên thế giới và Việt Nam. Trên thế giới các loài cây lá kim được nhiều nước tập trung nghiên cứu, ứng dụng giâm hom được phục vụ cho chương trình trồng rừng, dòng vô tính đã được tuyển chọn và đã thu được những kết quả đáng kể nhất là ở các nước Châu Âu và ở nước ta cũng thế công tác nghiên cứu và giâm hom một số loài cây phục vụ cho công tác trồng, cải tạo rừng đang được chú trọng nhiều hơn. Với mục đích nhằm khôi phục lại quần thể loài cây, trong đó có loài cây Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius) hiện nay đang bị khai thác nghiêm trọng và chỉ còn lại một số quần thể rất nhỏ tại một số khu vực nghiên cứu bằng phương pháp giâm hom.
Phương pháp giâm hom (cutting propagation): Là phương pháp dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom có đặc tính di truyền được giữ nguyên từ cây mẹ. Nhân n 2 giống bằng hom là phương pháp nhân giống nhanh và có hệ số nhân giống cao nên được dùng phổ biến trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả. Nhân giống bằng phương pháp giâm hom phụ thuộc nhiều yếu tố như: Xuất xứ, tuổi cây mẹ lấy cành, vị trí lấy cành, tuổi cành, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, chất kích thích ra rễ….trong đó sử dụng chất kích thích trong nhân giống cũng là việc cần thiết nhằm kích thích sự ra rễ và sự thành công của công tác nhân giống để bảo tồn nguồn gen quý. Để thử nghiệm ảnh hưởng của các chất kích thích đến tỷ lệ sống và khả năng ra rễ của cây Thông tre lá dài tôi sử dụng các chất kích thích ra rễ (NAA, IBA, IAA) với các nồng độ khác nhau (500 ppm, 750 ppm và 1000 ppm) để tìm ra loại chất kích thích và nồng độ thích hợp nhất cho công thức giâm hom.
Nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu về ảnh hưởng của chất kích thích ra rễ đối với loài cây nghiên cứu tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của các chất kích thích tới khả năng ra rễ và sinh trưởng của cây Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius D. Don), tại Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” 1.2 Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu ảnh hưởng của ba chất kích thích ra rễ là: NAA, IBA và IAA với ba loại nồng độ khác nhau đến khả năng ra rễ của hom Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius). Từ đó tìm ra được loại chất kích thích và nồng độ thích hợp nhất cho công thức giâm hom góp phần tạo cây giống cho công tác phục hồi, bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được loại chất kích thích và nồng độ thích hợp nhất cho công thức giâm hom, sản xuất nguồn giống cây Thông tre lá dài.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của Thông tre lá dài thời kỳ đầu sau khi vào bầu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan. - Giúp cho sinh viên kiểm chứng lại những kiến thức lý thuyết đã học biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, và có thể tích lũy được những kiến thức thực tiễn quý giá phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai.
- Nắm được các phương pháp nghiên cứu, bước đầu tiếp cận và áp dụng kiến thức đã được học trong trường vào công tác nghiên cứ khoa học, áp dụng tiến bộ khoa học vào nhân giống cây, bảo tồn loài. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được vai trò của các yếu tố ngoại cảnh, chất kích thích và các yếu tố khác trong việc nhân giống bằng phương pháp giâm hom tại vườn ươm. Thành công của đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen, nhân giống và phát triển loài Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius), thông qua việc tìm được chất kích thích và nồng độ thích hợp nhất cho công thức giâm hom từ đó đóng góp vào việc bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học thực vật rừng. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan về loài cây nghiên cứu 2. Những nghiên cứu trên Thế giới Họ Kim giao (Thông tre) có tên khoa học là Podocarpaceae Endl., 1847 là một họ của ngành thực vật hạt trần (Ngành Thông). Trên thế giới họ này có khoảng 18 - 19 chi với 170 - 200 loài. Chi Thông tre Podocacrpus có khoảng 104 - 107 loài, phân bố rộng, Thông tre lá dài (Thông tre) là loài cây trong chi này, phân bố ở Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Fiji, Ấn Độ, Indonesia, Lào, ở Brunei, Malaysia, Myanma, Nepal, Papua, New Guinea , Philippines, quần đảo Solomon, Thái Lan, và Việt Nam [21].
Trong lâm nghiệp, nhân giống sinh dưỡng cho cây rừng đã được sử dụng trên 100 năm nay. Từ những năm 1840, Marrier de Boisdyver (người Pháp) đã ghép 10.000 cây Thông Đen.H công bố công trình ghiên cứu nhân giống một số loài cây lá kim và lá rộng thường xanh bằng hom. Ở Pháp năm 1969, Trung tâm lâm nghiệp đới bắt đầu chương trình nhân giống Bạch đàn. Năm 1973 mới có 1ha rừng trồng bằng cây hom đến năm 1986 có khoảng 24.000 ha rừng trồng bằng hom, các rừng này đạt tăng trưởng bình quân 35 m3/ha/năm [19].
Hiện nay ở một số nước, do kết hợp được công tác chọn giống, kĩ thuật tạo cây con bằng mô - hom và kĩ thuật thâm canh trong trồng rừng đầu dòng vô tính mà đã đưa được năng suất từ 5 m3/ha/năm lên 15 m3/ha/năm trên đất xấu. Năng suất trồng rừng bạch đàn 30 m3/ha/năm ở Zimbabuê, 30 m3/ha/năm ở Công gô, ở Brazin 50 m3/ha/năm đặc biệt có nơi năng suất đạt từ 75 – 100 m3/năm/ha [8]. Trên thế giới, cây lá kim rất được tập trung vào nghiên cứu. Riêng hai nước Australia và Newzealand sản xuất hàng năm trên 10 triệu cây hom Pinus radiate, Canada sản xuất hàng năm trên 3 triệu cây hom Vân sam đen (Picea maiana), Vân sam đen (Picea sitchensis) được 3 nước trên tạo ra hơn 4 triệu cây hom mỗi năm.
Năm 1989, Nhật bản sản xuất 31,4 triệu cây hom Liễu sam (Cryptomeria japonica). Vân sam Na Uy (Picea abies) là loài cây lá kim cũng n 5 thu được những thành công trong việc nhân giống bằng hom với số lượng lớn phục vụ công tác trồng rừng dòng vô tính, nhất là ở Châu Âu. Chỉ tính riêng ở một số cơ sở giâm hom chính của 11 nước mà đã sản xuấ được hơn 11 triệu cây hom mỗi năm và qua 10 năm khảo nghiệm ở Mỹ mới đưa vào sản xuất đại trà Cây thông Noel (P. radiate) với đặc tính tốt của cây trang trí, sinh trưởng nhanh, chịu lạnh, chịu hạn [4].
Những nghiên cứu ở Việt Nam Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom đã và đang được đưa vào sử dụng ngày một nhiều và đóng vai trò không thể thiếu được trong công tác chọn giống, bảo tồn tài nguyên di truyền ở trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng. Vào những năm cuối thập kỷ 90 công nghệ sản xuất cây giống bằng mô hom phục vụ trồng rừng được Nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ. Từ những kết quả ban đầu của những khu rừng trồng bạch đàn, keo lai bằng mô hom cho thấy chất lượng rừng trồng đã được cải thiện, năng suất rừng tăng lên đáng kể, từ đó cây trồng rừng bằng mô hom đã dần dần thay thế cây trồng rừng bằng hạt ở nhiều nơi trong cả nước. Chính vì thế việc nghiên cứu nhân giống bằng hom là một việc thiết thực nhằm góp phần đẩy nhanh sản xuất cây con bằng hom phục vụ cho công tác trồng rừng.
* Đối với cây Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius) Theo Phan Văn Thăng (2013) thì chưa có nghiên cứu nào thực hiện thử nghiệm nhân giống vô tính loài Thông tre lá dài. Hiếm khi thu được hạt của Thông tre lá dài vì hầu hết các cây mẹ đã bị khai thác kiệt. Chưa thực hiện thử nghiệm nhân giống loài này ở khu vực nghiên cứu. Hom giâm từ những cây non có thể đạt tỷ lệ ra rễ 55 - 60% [15].
Trong chi Thông tre (Podocarpus) có một số loài đã được giâm hom thành công cho việc tạo các cây cảnh với một số ít các loài, đây là cơ sở cho việc giâm hom cây Thông tre lá dài vì chúng là những cây cùng trong một chi nên có những đặc tính sinh thái tương đồng: - Cây Tùng la hán (Podocarpus macrophyllus) n 6 Là loài cây được giâm hom trồng làm cảnh rất phổ biết của nhiều nước. Khi giâm hom với kỹ thuật rất đơn giản và dễ làm. Chọn những cành bánh tẻ, dài chừng 10 cm, đem cắm vào khay đất mịn đặt nơi râm mát, đặc biệt phải đảm bảo độ ẩm liên tục. Nếu có thuốc kích thích rễ càng tốt, không có cũng không sao.
Tỷ lệ cành sống có thể đạt 70 - 90%. Kinh nghiệm giâm hom cho thấy có thể cắm những cành to bằng ngón tay cái mà vẫn sống, miễn là đảm bảo độ ẩm thường xuyên.