Đặt vấn đề Việt Nam có nguồn tài nguyên cây dược liệu vô cùng đa dạng và phong phú, vai trò của cây dược liệu trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng và đem lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân là điều không thể phủ nhận. Song thực trạng hiện nay, trước nạn phá rừng tràn lan, biến đổi khí hậu cùng với sự khai thác bừa bãi mà chưa có kế hoạch tái sinh và phát triển, nhiều loài cây dược liệu đang bị giảm sút về số lượng và chất lượng một cách đáng báo động, đặc biệt là các loài dược liệu có giá trị sử dụng phổ biến như cây Khôi nhung tía. Khôi nhung tía tuy phân bố nhiều nơi nhưng số lượng không nhiều do tái sinh hạt kém nên nguồn cây giống có thể khai thác rất hạn chế (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Ở Việt Nam, Khôi nhung tía phân bố rải rác ở các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Đà Nẵng.
Theo tài liệu y học cổ truyền, trong lá Khôi nhung tía có thành phần chủ yếu là tannin, các glycosid có tác dụng trung hòa, làm giảm sự gia tăng acid của dạ dày, chống viêm giảm đau, đặc biệt có tác dụng làm se vết loét, kích thích lên da non và làm lành vết thương trong đường tiêu hóa. Do vậy, Khôi nhung tía được dùng để điều trị bệnh viêm loét dạ dày tá tràng, làm giảm ợ hơi, ợ chua, nóng rát vùng thượng vị (Quỹ Châu Á, 2012). Để có thể bảo tồn và có nguồn cung dược liệu Khôi nhung tía ổn định, lâu dài và có chất lượng tốt, đủ để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe con người và đảm bảo hàm lượng và hoạt tính, cần phải có biện pháp hữu hiệu trong bảo tồn và phát triển loại dược liệu này. Ở nước ta, Nguyễn Văn Việt và cộng sự (2016) đã nghiên cứu nhân giống thành công cây Khôi nhung tía (Ardisia sylvestris Pitard) bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro.
Đoàn Thị Thu Hương và cộng sự (2019) đã hoàn thiện quy trình nhân giống cây Khôi nhung tía bằng kĩ thuật nuôi cấy in vitro. 1 Tuy nhiên dựa trên cơ sở các chương trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu nhân giống nuôi cấy mô đã được thực hiện thành công, ta cần đánh giá kỹ hơn về sự ảnh hưởng của các yếu tố tác động để có thể đạt kết quả tối ưu. Nhân giống in vitro được chứng minh là phương pháp hữu hiệu để nhân nhanh giống cây trồng với số lượng lớn trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, các chồi nuôi cấy trong bình thủy tinh còn nhiều nhược điểm như khí khổng bị dị dạng, nồng độ thấp, độ ẩm cao (95%).
Sự thành công của phương pháp nhân giống in vitro phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thuần hóa cây giống trong điều kiện vườn ươm. Trong điều kiện in vitro, cây giống đã quen với những điều kiện lý tưởng được kiểm soát trong quá trình sinh trưởng, đến giai đoạn thích nghi, cây giống phải chống chịu với nhiều tác nhân bất lợi bên ngoài như: nấm bệnh, nhiệt độ thay đổi, độ ẩm thấp, nghèo dinh dưỡng,… Sự thay đổi đột ngột đó làm cho tỷ lệ sống sót của cây giống giảm đáng kể. Vì vậy, hiểu rõ sự thay đổi khác nhau trong sinh lý, sinh hóa cây trồng là vấn đề quan trọng để đưa ra những biện pháp cải thiện khả năng sống sót và thích nghi của cây giống ngoài vườn ươm, nhằm đơn giản quy trình sản xuất cũng như dễ ứng dụng vào thực tiễn sản xuất. Căn cứ vào những dẫn chứng nêu trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng thực vật đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Khôi nhung tía (Ardisia sylvestris Pitard) trong nuôi cấy mô thực vật” nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng và tìm ra mức độ tối ưu nhất cho Khôi Nhung tía trong điều kiện nuôi cấy in vitro trước khi đem ra vườn ươm.
Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng thực vật đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây Khôi nhung tía trong nuôi cấy mô thực vật. Yêu cầu Xác định được môi trường thích hợp nhất cho cảm ứng hình thành callus từ lá cây trong các môi trường nuôi cấy. Xác định được môi trường thích hợp nhất để nhân nhanh callus.
Xác định được môi trường thích hợp nhất để tái sinh chồi từ callus. Xác định được môi trường thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển chồi mầm. Xác định được môi trường thích hợp nhất để tạo rễ, Xác định các tác nhân cản trở việc nuôi cấy in vitro khôi nhung tía, theo dõi các chỉ tiêu nghiên cứu. Tuân thủ nội quy của cơ sở làm việc và giáo viên hướng dẫn.
Ghi chép nhật kí và các số liệu, thường xuyên báo cáo lại cho giáo viên hướng dẫn. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về cây Khôi nhung tía 2. Nguồn gốc Khôi nhung tía (Ardisia sylvestris Pitard) còn gọi Cơm nguội rừng, Khôi tía thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae), bộ Anh Thảo (Primulalales).
Là cây tiểu mộc cao 0,5-2m, không lông, có thân rễ bò, rỗng xốp, có vỏ màu xám, ít phân nhánh hay không phân nhánh, gần trên ngọn có nhiều lá. Cây mọc rải rác ở các tỉnh miền núi phía bắc và trung như: Lào Cai (Sapa), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Quảng Ninh, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Nội (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hóa (Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thạch Thành), Nghệ An (Quỳ Châu), Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (Phú Lộc), Quảng Nam, Đà Nẵng. Ở Việt Nam, Khôi nhung tía (Ardisia sylvestris Pitard) được biết đến với công dụng chủ yếu là để làm thuốc. Phân loại Khôi nhung tía có tên khoa học là Ardisia sylvestris Pitard Tên gọi khác: Khôi nhung, Khôi tía, lá Khôi Chi: Trọng đũa (Ardisa) Họ: Anh thảo (Primulaceae) Bộ: Thạch nam (Ericales) 2.
Đặc điểm hình thái a. Thân Là cây tiểu mộc cao 0,5-2m, không lông, có thân rễ bò, rỗng xốp, có vỏ màu xám, ít phân nhánh hay không phân nhánh, gần trên ngọn có nhiều lá. Lá Mọc so le, phiến lá thon ngược, dài đến 25-40 x 6-12cm, đầu nhọn hoặc tù, giảm dần và men xuống gốc, đáy từ từ hẹp thành cuống có cánh, màu lục sẫm ở trên, nhạt màu hơn ở dưới hoặc có màu đỏ tím, bìa có răng nhọn mịn, đều nhau; có lông màu nâu trên các gân, nhiều hơn ở mặt dưới; gân bên 28-35 đôi, gân cấp 3 hình mạng nổi rõ ở mặt dưới. Hoa Hoa mọc thành chùm, dài 10-15cm, hoa rất nhỏ, chùm kép ngoài nách lá; cọng hoa 10-12mm; lá đài cao 1,5mm; cánh hoa 3mm, màu trắng pha hồng tím 5 lá đài 5 cánh hoa.
Lá đài hình tam giác hoặc thuôn, nhọn, hợp ngắn ở gốc, có điểm tuyến và lông mi. Cánh hoa màu hồng, hình mác, dài 3mm, đầu tù hoặc nhọn, có điểm tuyến. Nhị ngắn hơn cánh hoa, bao phấn hình mác nhọn, chỉ nhị rất ngắn. Bầu hình trứng, vòi mảnh, đầu nhụy hình chấm.
Quả Quả mọng, hình cầu, khi chín màu đỏ, có điểm tuyến, đường kính 7-8mm. Hạt Hạt 1, hình cầu, lõm ở gốc. Tái sinh bằng hạt và chồi. Quả hình thành từ tháng 9-12 và 1-2 năm sau.
Điều kiện sinh thái và phân bố Khôi thuộc loại cây bụi, ưa ẩm và ưa bóng, thường mọc trong rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh, nơi ẩm nhiều mùn, ven suối, ở độ cao 400 – 1500 m. Nhiệt độ thích hợp để cây khôi phát triển từ 15-28oC, lượng mưa 1500- 2500mm, khu vực có ánh sáng tán xạ. Loại đất thích hợp trồng khôi nhung là đất feralit mùn trên núi, feralit mùn, đất bazan, đất xám. thành phần cơ giới thịt nhẹ, tầng dầy trên 30cm, độ pH 6,5-7.
Cây mọc rải rác ở các tỉnh miền núi phía bắc và trung như: Lào Cai (Sapa), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Quảng Ninh, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Nội (Ba Vì), Ninh Bình (Cúc Phương), Thanh Hóa (Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thạch Thành), Nghệ An (Quỳ Châu), Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (Phú Lộc), Quảng Nam, Đà Nẵng. Giá trị của cây Khôi nhung tía Tác dụng dược lý: Trên cơ sở nghiên cứu của Phạm Bá Tuyến cho thấy Lá Khôi có tác dụng chống viêm, giảm đau, trung hòa acid, chống loét dạ dày, làm lành vết loét dạ dày tá tràng trên thực nghiệm cũng như trên lâm sàng. Sơ bộ nghiên cứu trên thỏ, chuột bạch và khỉ cũng thấy có một số kết quả như làm giảm độ axit của dạ dày khỉ, làm giảm nhu động ruột cô lập của thỏ, làm yếu sự co bóp của tim, làm giảm sự hoạt động bình thường trên chuột bạch. Bệnh viện 108 thử nghiệm dùng trên lâm sàng (mới trên 5 bệnh nhân) thì 4 người giảm đau 80-100%, dịch vị giảm xuống bình thường.
Ngoài ra Viện đông y áp dụng lá khôi chữa một số trường hợp đau dạ dày (dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác) đã sơ bộ nhận định như sau: Với liều 100g lá khôi trở xuống uống hằng ngày thì có thể từ đỡ đau đến hết đau, bệnh nhân ăn được 6 ngủ được. Nhưng với liều 250g một ngày thì làm bệnh nhân mệt, người uể oải, da tái xanh, sức khỏe xuống dần nếu tiếp tục uống. Lá khôi còn là vị thuốc chữa đau dạ dày trong nhân dân. Việc sử dụng này xuất phát từ kinh nghiệm của Phân hội đông y Thanh Hóa dựa trên kinh nghiệm dùng của một vùng dân tộc dùng lá cây này chữa đau bụng.
Nhưng bao giờ cũng dùng phối hợp với những vị bồ công anh (Lactuca indica), khổ sâm (Croton tonkinensis). Các loài thực vật thuộc chi Ardisia họ Myrsinaceae đã được nghiên cứu từ rất sớm trên thế giới. Ngay từ năm 1968, Ogawa Hideko và các cộng sự đã tìm thấy các hợp chất ardisiaquinon A, B, C từ loài Ardisia sieboldi của Nhật Bản. Trong nghiên cứu về các hợp chất Triterpene Saponins chiết xuất từ Ardisia crispa của Jansakul C.
(1986) đã phân lập trong rễ Ardisia crispa có 19 hợp chất tritecpen saponin trong đó 2 hợp chất ardisiacrispin A & B còn được tìm thấy từ loài A. Năm 1987, từ rễ và thân loài A. cornudentata, lần đầu tiên đã phân lập được 2 hợp chất 1,4-benzoquinon trong bài nghiên cứu Quinones từ Ardisia cornudentata của Tian Z. Tiếp theo đó ChunPo Chang và cộng sự năm 2010 cũng đã nghiên cứu phân lập gốc rễ Ardisia cornudentata Mez và phát hiện 3 hợp chất mới là: 3- methoxy-2-methyl-5-pentylphenol, 3-methoxy-2-14 methyl-5-(1′-ketopentyl) phenol và cornudoside cùng với 26 hợp chất khác đã được biết đến.
Ngoài ra Viện đông y và Bộ môn dược lý Trường đại học y dược có thí nghiệm sơ bộ trên loài Khôi Nhung (Ardisia sylvestris Pitard) nhưng mới thấy có ít tanin và glucozit.