Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Viện Tài nguyên Thế giới, ước tính đến năm 2040 sẽ có 44 quốc gia rơi vào tình trạng căng thẳng nguồn nước ở mức cao hoặc cực kỳ nghiêm trọng khi lượng khai thác vượt quá 25% tổng trữ lượng tái tạo hàng năm. Tình trạng biến đổi khí hậu, đô thị hóa nhanh và xâm nhập mặn đang đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước tại khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là các dải ven biển và hải đảo Việt Nam. Dù sở hữu nguồn năng lượng mặt trời dồi dào với 2.000 đến 6.000 giờ nắng mỗi năm cùng cường độ bức xạ trung bình 5 kWh/m²/ngày, các công nghệ khử mặn truyền thống như thẩm thấu ngược hay chưng cất nhiệt đa hiệu ứng vẫn bộc lộ nhiều rào cản lớn về chi phí vận hành từ 1,0 đến 2,5 USD/m³, tiêu tốn nhiều điện năng và phát thải khí nhà kính.

Trước thách thức này, công nghệ bốc hơi nước mặt trời dựa trên vật liệu quang nhiệt nổi lên như một giải pháp đột phá, bền vững và thân thiện với môi trường. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công nghệ Nano của tác giả Lại Tuấn Dũng, thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Tiến Thành và GS. Yoji Shibutani tại Trường Đại học Việt Nhật - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tập trung chế tạo thành công vật liệu khí dung dựa trên vi sợi tơ sen tự nhiên kết hợp mạng polyme gia cường phục vụ hệ thống bốc hơi nước mặt trời hiệu suất cao.

Nghiên cứu được triển khai trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mã số QG.52 trong giai đoạn 2022 - 2023. Luận văn đã tận dụng nguồn phế phẩm nông nghiệp cuống sen phong phú tại Việt Nam để tạo ra vật liệu aerogel siêu nhẹ có độ xốp đạt 95,64% đến 97,05%, độ hấp thụ ánh sáng toàn dải đạt xấp xỉ 95% và tốc độ bay hơi nước biển đạt 2,45 kg/m²·h. Kết quả này mở ra hướng tiếp cận kinh tế tuần hoàn giàu tiềm năng, đóng góp trực tiếp vào Mục tiêu phát triển bền vững số 6 của Liên Hợp Quốc về nước sạch và vệ sinh môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chuyển hóa quang nhiệt và cơ chế định vị nhiệt cục bộ trong hệ thống phát hơi nước mặt trời ba thành phần. Theo nguyên lý quang nhiệt học, khi photon ánh sáng tương tác với vật liệu hấp thụ, năng lượng ánh sáng được chuyển đổi trực tiếp thành nhiệt năng thông qua các cơ chế kích thích điện tử, dao động mạng tinh thể hoặc truyền điện tích phối tử - kim loại. Để tối ưu hóa hiệu suất bốc hơi mà không làm tiêu hao nhiệt lượng vào khối nước nền bên dưới, cấu trúc vật liệu aerogel được thiết kế nhằm khai thác hiện tượng định vị nhiệt bề mặt nhờ độ dẫn nhiệt cực thấp.

Mô hình nghiên cứu tích hợp lý thuyết mao dẫn trong cấu trúc xốp không gian ba chiều và cơ chế tạo liên kết hydro đa điểm giữa các mạch polyme sinh học. Các khái niệm cốt lõi được ứng dụng bao gồm:

  1. Vật liệu quang nhiệt sinh khối: Hệ vật liệu chế tạo từ nguồn gốc thực vật có khả năng hấp thụ phổ quang học rộng và chuyển hóa thành nhiệt năng phục vụ bốc hơi chất lỏng.
  2. Khí dung sinh học: Dạng vật liệu siêu nhẹ, độ rỗng cao được tạo ra bằng phương pháp sấy thăng hoa khối gel mà không làm sụp đổ cấu trúc mạng ba chiều.
  3. Chuyển dịch điện tích phối tử - kim loại: Hiện tượng chuyển dịch electron giữa nhóm chức polyphenol của Tannic acid và ion sắt Fe3+, tạo ra dải hấp thụ quang học mạnh trên toàn bộ vùng tử ngoại, khả kiến và hồng ngoại gần.
  4. Mao dẫn vi mô: Hiện tượng chất lỏng tự vận chuyển qua các vi ống rỗng bên trong sợi sen tự nhiên nhờ lực căng bề mặt và tương tác liên kết hydro.
  5. Sự giảm entanpi bay hơi nước: Hiện tượng các nhóm hydroxyl tự do trên bề mặt khung polyme làm suy yếu liên kết hydro giữa các phân tử nước, giúp nước bay hơi ở mức năng lượng thấp hơn so với nước tự do.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn nguyên liệu cuống sen thu gom từ các đầm sen tự nhiên tại Việt Nam, phối hợp cùng nghệ nhân dệt lụa Phan Thị Thuận để tách chiết sợi tơ sen thô chứa khoảng 74% cellulose, 8,1% lignin và 1,1% hemicellulose. Quy trình tinh chế và tổng hợp được tiến hành qua ba giai đoạn chặt chẽ: xử lý chọn lọc tạp chất bằng dung dịch Ethanol:H2O tỷ lệ 1:1 ở 80°C trong 3 giờ, thủy phân kiềm với NaOH 2M ở 80°C trong 3 giờ, và tẩy trắng lignin bằng hỗn hợp NaOH 1% kết hợp NaClO 1% ở 80°C trong 2 giờ nhằm thu nhận cellulose tinh khiết có cấu trúc tinh thể đồng nhất.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 4 nhóm mẫu chuẩn hóa có kích thước chiều cao 12 mm đến 25 mm và đường kính 40 mm: 1 mẫu aerogel trắng đối chứng (CC1 gồm cellulose 10 mg/ml và PVA 20 mg/ml) và 3 mẫu aerogel đen chức năng (CC2, CC3, CC4 với nồng độ Tannic acid lần lượt là 3 mg/ml, 6 mg/ml, 10 mg/ml cùng FeCl3 6 mg/ml và PVA 20 mg/ml). Hỗn hợp huyền phù sau khi phân tán siêu âm ở công suất 200 W trong 10 phút được cấp đông sâu ở -70°C trong 6 giờ và sấy thăng hoa trong 72 giờ liên tục.

Các phương pháp phân tích hiện đại được lựa chọn nhằm giải quyết từng mục tiêu cụ thể: kính hiển vi điện tử quét phân giải hình thái vi cấu trúc xốp và đường kính sợi; phổ nhiễu xạ tia X kiểm định độ kết tinh tinh thể tại dải góc quét 2θ từ 10° đến 60°; phổ hồng ngoại biến đổi Fourier xác định các nhóm chức hóa học; hệ thống BET đo diện tích bề mặt riêng qua hấp phụ đẳng nhiệt Nitơ; thiết bị nén cơ học Shimadzu AG-X đánh giá mô đun đàn hồi qua 20 chu kỳ nén nạp - nhả tải; và hệ mô phỏng năng lượng mặt trời Oriel Sol1A kết hợp camera nhiệt FLIR C2 ghi nhận sự biến thiên khối lượng và nhiệt độ thực nghiệm dưới bức xạ chuẩn 0,96 kW/m² trong thời gian 60 phút.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm đã mang lại 4 phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, vật liệu aerogel đen sở hữu khả năng hấp thụ quang phổ vượt trội trên toàn dải bước sóng. Phổ UV-Vis-nIR cho thấy mẫu aerogel đen đạt tỷ lệ hấp thụ năng lượng mặt trời lên tới 95% trong vùng ánh sáng khả kiến (300 - 800 nm) và duy trì trên 70% ở dải hồng ngoại gần (800 - 2500 nm). Ngược lại, mẫu aerogel trắng đối chứng chỉ hấp thụ khoảng 20% ở dải 300 - 1300 nm và 40% ở dải 1300 - 2500 nm. Dưới nguồn bức xạ mô phỏng 0,96 kW/m², nhiệt độ bề mặt của aerogel đen tăng vọt từ nhiệt độ phòng lên mức ổn định 61 °C chỉ sau 10 phút chiếu xạ, cao hơn 21 °C so với mức nhiệt 40 °C của aerogel trắng.

Thứ hai, tốc độ bốc hơi nước của hệ vật liệu đạt hiệu suất ấn tượng. Dữ liệu thực nghiệm ghi nhận tốc độ bay hơi của aerogel đen đạt 2,45 kg/m²·h, cao gấp 5,83 lần so với tốc độ bay hơi của khối nước tự nhiên dưới cùng điều kiện (0,42 kg/m²·h) và vượt trội hơn 96% so với mẫu aerogel trắng (1,25 kg/m²·h).

Thứ ba, cấu trúc vi mô dạng mạng lưới không gian ba chiều mang lại độ bền cơ học và diện tích bề mặt tối ưu. Ảnh SEM khẳng định mạng xốp liên thông có kích thước lỗ dao động từ 0,5 đến 10 µm, xen kẽ các buồng cách nhiệt kín kích thước 50 đến 100 µm. Diện tích bề mặt riêng BET đạt 9,8 m²/g. Mô đun đàn hồi Young của mẫu aerogel sợi sen đen đạt 104,7 kPa, cao hơn gấp đôi mẫu trắng (62,3 kPa) và vượt xa nhiều loại aerogel sinh khối khác như aerogel từ rơm rạ (47 kPa) hay lá dứa (36,13 kPa). Vật liệu chịu được 20 chu kỳ nén ép liên tục ở mức biến dạng 90% mà không xuất hiện vết nứt vỡ cấu trúc.

Thứ tư, tính siêu ưa nước giúp tăng tốc độ dẫn truyền nước cục bộ. Thử nghiệm góc tiếp xúc cho thấy giọt nước thể tích 18 µL thẩm thấu hoàn toàn vào bề mặt aerogel đen chỉ trong 0,492 giây, nhanh hơn xấp xỉ 7,8 lần so với thời gian 3,854 giây của aerogel trắng.

Thảo luận kết quả

Hiệu năng quang nhiệt xuất sắc của aerogel đen bắt nguồn từ sự kết hợp tương hỗ giữa phức chất Tannic acid - Fe3+ và hình thái học bề mặt gồ ghề của mạng lưới khí dung. Sự tạo phức trực tiếp kích hoạt hiện tượng chuyển dịch điện tích phối tử - kim loại, biến các photon ánh sáng thành dao động nhiệt nhanh chóng. Đồng thời, cấu trúc buồng kín kích thước 50 - 100 µm đóng vai trò như các vách ngăn cách nhiệt tự nhiên, hạn chế thất thoát nhiệt lượng truyền xuống khối nước bên dưới. Kết quả này giải thích vì sao nhiệt độ thân vật liệu duy trì chênh lệch rõ rệt so với bề mặt bốc hơi.

Khi thảo luận về mối quan hệ giữa thời gian và khối lượng bốc hơi, dữ liệu thực nghiệm có thể được trực quan hóa thông qua đồ thị đường biểu diễn độ suy giảm khối lượng theo thời gian từ 0 đến 60 phút. Đường dốc tuyến tính của aerogel đen phản ánh tốc độ sinh hơi ổn định và liên tục. Bảng so sánh mô đun Young giữa các hệ khí dung sinh học cũng minh chứng rõ nét vai trò của vi sợi tơ sen: cấu trúc dạng bó gồm 15 đến 17 sợi con xoắn bện tự nhiên đã gia cố khung nền, trong khi mạng lưới liên kết hydro chéo giữa Tannic acid, PVA và cellulose đóng vai trò chất kết dính bền vững. Thử nghiệm ngâm mẫu trong nước biển liên tục 30 ngày khẳng định độ bền cấu trúc vượt trội và cơ chế tự làm sạch muối đọng hiệu quả.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả thực nghiệm và tiềm năng ứng dụng thực tế, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động cụ thể:

  1. Tối ưu hóa công nghệ chiết xuất nanocellulose quy mô phòng thí nghiệm: Các nhóm nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Hà Nội cần tiếp tục phát triển quy trình kết hợp thủy phân enzyme và nghiền cơ học áp lực cao trong giai đoạn 2024 - 2025, nhằm chuyển đổi vi sợi cellulose kích thước 4 µm sang dạng sợi nano có kích thước dưới 100 nm. Mục tiêu nâng mô đun Young của aerogel lên mức trên 150 kPa và tăng diện tích bề mặt riêng BET đạt từ 25 đến 30 m²/g mà vẫn giữ độ xốp trên 95%.

  2. Thiết kế và chế tạo module thiết bị bốc hơi nước mặt trời quy mô thử nghiệm pilot: Các viện nghiên cứu kỹ thuật môi trường phối hợp cùng doanh nghiệp công nghệ cần tiến hành chế tạo module SSG diện tích thu nhiệt từ 1 đến 2 m² trong giai đoạn 2025 - 2026. Thiết bị hướng tới target metric đạt sản lượng nước ngọt 15 đến 30 lít/ngày dưới ánh sáng tự nhiên tại các vùng ngập mặn Đồng bằng sông Cửu Long và huyện đảo Trường Sa.

  3. Xây dựng mạng lưới thu gom và chuỗi cung ứng phế phẩm cuống sen bền vững: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các địa phương có diện tích trồng sen lớn như Đồng Tháp, Huế, Hà Nội cần hợp tác cùng các hợp tác xã làng nghề để chuẩn hóa quy trình sơ chế phế phẩm cuống sen từ năm 2024. Giải pháp này giúp cắt giảm chi phí sản xuất vật liệu aerogel xuống dưới 0,5 USD cho mỗi đơn vị bay hơi, đồng thời tạo nguồn thu nhập bổ sung cho người nông dân.

  4. Nâng cao tính năng tự làm sạch chống bám muối lâu dài: Các kỹ sư phát triển sản phẩm cần tối ưu hóa thiết kế kênh mao dẫn đối lưu ngược nhằm tăng tốc độ hòa tan muối kết tinh trong bóng tối, đảm bảo hệ thống vận hành liên tục trên 365 ngày mà không bị suy giảm quá 5% hiệu suất bốc hơi nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và nhà khoa học ngành Công nghệ Nano, Khoa học Vật liệu: Tài liệu cung cấp quy trình chi tiết về phương pháp tổng hợp khí dung từ sợi sinh khối tự nhiên, cơ chế tạo phức quang nhiệt Tannic acid - kim loại chuyển tiếp và các kỹ thuật đo đạc chuẩn xác như SEM, XRD, BET, FT-IR. Luận văn là tài liệu tham khảo đắc lực cho các đề tài phát triển vật liệu xốp chức năng cao.

  2. Kỹ sư môi trường, chuyên gia công nghệ xử lý nước và năng lượng tái tạo: Cung cấp đầy đủ số liệu thực nghiệm, sơ đồ thiết lập hệ bốc hơi nước mặt trời quy mô nhỏ và cơ chế định vị nhiệt chống tổn thất năng lượng. Đây là cơ sở thực chứng để thiết kế các trạm lọc nước biển phân tán không phụ thuộc vào lưới điện quốc gia.

  3. Doanh nghiệp khởi nghiệp và nhà sản xuất thiết bị lọc nước sinh thái: Hưởng lợi từ công thức phối trộn vật liệu chi phí thấp, tận dụng hóa chất an toàn và nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, thay thế hoàn toàn các vật liệu đắt đỏ như Polypyrrole hay ống nano carbon.

  4. Các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp xanh và tổ chức phát triển bền vững: Nhận được minh chứng khoa học rõ ràng về mô hình kinh tế tuần hoàn, giúp xây dựng các chương trình hành động bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và hiện thực hóa mục tiêu tiếp cận nước sạch cho cộng đồng dễ bị tổn thương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Sợi tơ sen có ưu điểm gì vượt trội so với các loại sợi thực vật khác trong chế tạo aerogel? Sợi tơ sen tự nhiên có hàm lượng cellulose chiếm tới 74% khối lượng khô và sở hữu cấu trúc bó sợi xoắn đặc biệt gồm 15 đến 17 vi sợi đường kính 2 đến 4 µm liên kết chặt chẽ. Cấu trúc này mang lại độ bền cơ học vượt trội so với sợi bông và sợi viscose. Khi phân tán vào khung mạng PVA, aerogel sợi sen đạt mô đun Young 104,7 kPa, cao gấp 2,2 lần so với aerogel từ rơm rạ (47 kPa) và gấp 2,9 lần so với aerogel lá dứa (36,13 kPa).

  2. Vai trò cốt lõi của Tannic acid và muối FeCl3 trong cấu trúc aerogel đen là gì? Phức chất giữa Tannic acid và ion Fe3+ tạo ra hiệu ứng chuyển dịch điện tích phối tử - kim loại, giúp nâng độ hấp thụ quang học của aerogel đen lên 95% ở dải 300 - 800 nm và 70% ở dải 800 - 2500 nm. Bên cạnh đó, các nhóm polyphenol của axit tannic hình thành mạng lưới liên kết hydro dày đặc với PVA và cellulose, làm tăng gấp đôi độ bền nén cơ học của vật liệu.

  3. Vì sao aerogel đen đạt được tốc độ bốc hơi nước biển lên tới 2,45 kg/m²·h? Tốc độ bốc hơi đạt 2,45 kg/m²·h (gấp 5,83 lần nước tự nhiên) nhờ 3 yếu tố đồng vận: khả năng hấp thụ quang học sinh nhiệt bề mặt lên 61 °C dưới 1 sun; cấu trúc buồng kín 50 - 100 µm giúp định vị nhiệt tại bề mặt ngăn thất thoát nhiệt; và tính siêu ưa nước với thời gian thẩm thấu giọt nước chỉ 0,492 giây giúp cấp nước liên tục lên bề mặt bay hơi.

  4. Quy trình chế tạo aerogel từ cuống sen có đảm bảo tính thân thiện với môi trường không? Quy trình chế tạo hoàn toàn thân thiện với môi trường nhờ sử dụng phế phẩm nông nghiệp tái sinh và các tiền chất hữu cơ lành tính (PVA, Tannic acid chiết xuất thực vật). Phương pháp sấy thăng hoa dưới điểm ba của nước (-70°C, 3 ngày) tạo độ xốp 95,64% mà không cần dung môi hữu cơ độc hại hay chất tạo lỗ xốp nhân tạo phức tạp.

  5. Vật liệu có bị suy giảm hiệu suất hoặc đóng cặn muối khi hoạt động lâu dài trong môi trường nước biển không? Thực nghiệm kiểm tra độ ổn định cấu trúc chứng minh mẫu aerogel đen duy trì hình thái nguyên vẹn và tốc độ bốc hơi ổn định sau hơn 30 ngày ngâm trong nước biển. Nhờ mạng lưới lỗ xốp liên thông 0,5 đến 10 µm và tính mao dẫn siêu nhanh, các tinh thể muối đọng trên bề mặt được hòa tan và khuếch tán ngược vào nước trong điều kiện không chiếu sáng, tạo cơ chế tự làm sạch bền bỉ.

Kết luận

  • Luận văn đã tiên phong chiết xuất thành công cellulose tinh khiết từ phế phẩm cuống sen nông nghiệp Việt Nam với độ kết tinh thể hiện rõ nét tại đỉnh nhiễu xạ 2θ = 22,16°.
  • Tổng hợp thành công hệ vật liệu aerogel sinh thái ba chiều có độ xốp cực cao từ 95,64% đến 97,05% cùng cấu trúc mao quản kép tối ưu hóa đường dẫn nước.
  • Thiết lập phức chất quang nhiệt Tannic acid - Fe3+ giúp nâng độ hấp thụ ánh sáng lên 95%, tăng nhiệt độ bề mặt lên 61 °C dưới nguồn sáng chuẩn 0,96 kW/m².
  • Đạt tốc độ bốc hơi nước biển ấn tượng 2,45 kg/m²·h cùng mô đun đàn hồi cơ học bền bỉ 104,7 kPa, chịu được 20 chu kỳ nén nạp tải liên tiếp.
  • Đóng góp giải pháp vật liệu xanh cho đề tài nghiên cứu QG.52, mở ra lộ trình phát triển thiết bị lọc nước mặn khử mặn phân tán bằng năng lượng mặt trời giai đoạn 2024 - 2026. Quý độc giả, chuyên gia và doanh nghiệp quan tâm có thể kết nối với nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Việt Nhật - Đại học Quốc gia Hà Nội để thúc đẩy ứng dụng thực tế.