Chương 1 TỔNG QUAN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vật liệu composit Composit là vật liệu được tổng hợp từ hai hay nhiều loại vật liệu khác nhau, nhằm mục đích tạo nên một vật liệu mới, ưu việt và bền hơn so với các vật liệu ban đầu. Composit được cấu thành bởi hai thành phần chính là vật liệu nền và vật liệu gia cường (còn gọi là vật liệu cốt). Vật liệu nền đảm bảo cho việc liên kết các vật liệu gia cường lại với nhau, tạo cho vật liệu gồm nhiều thành phần có tính nguyên khối, liên tục, đảm bảo cho composit có độ bền nhiệt, bền hóa học và khả năng chịu đựng khi vật liệu có khuyết tật.
Vật liệu nền của composit có thể là polyme, các kim loại và hợp kim, gốm hoặc cacbon. Vật liệu gia cường đảm bảo cho composit có các mođun đàn hồi và độ bền cơ học cao. Các chất gia cường của composit có thể là các hạt ngắn, bột hoặc các sợi cốt như sợi thủy tinh, sợi polyme, sợi gốm, sợi kim loại và sợi cacbon. Hàm lượng chiếm khoảng từ 40-50%.
Ưu điểm lớn nhất của composit là có thể thay đổi cấu trúc hình học, sự phân bố và các vật liệu thành phần để tạo ra một vật liệu mới có độ bền theo mong muốn. Rất nhiều đòi hỏi khắt khe của kỹ thuật hiện đại (như nhẹ, lại chịu được nhiệt độ lên tới 3000oC) chỉ có composit mới đáp ứng nổi. Vì vậy, vật liệu composit giữ vai trò then chốt trong cuộc cách mạng về vật liệu mới. Vật liệu nanocomposit [28] 1.
Giới thiệu vật liệu nanocomposit Vật liệu nanocomposit là vật liệu mà pha gia cường (chiếm 1-7%) ở kích thước nano. Vật liệu polyme nanocomposit là một loại polyme composit "mới" mà trong đó các hạt độn trong mạng nền polyme có kích thước nano. Một loại hạt độn nano đặc biệt là nanoclay (còn gọi là nano khoáng sét). Chúng được cấu tạo từ các lớp mỏng, mỗi lớp có chiều dày từ một đến vài nanomet, còn chiều dài từ vài trăm đến vài nghìn nanomet.
Nanoclay có thể là nanoclay tự nhiên hoặc các lớp silicat tổng hợp. Năm 1993, vật liệu polyme-clay nanocomposit lần đầu tiên được chế tạo thành công. Các nhà khoa học ở Phòng thí nghiệm Nghiên cứu và Phát triển Trung tâm của công ty Toyota đã tổng hợp được vật liệu nanocomposit của polyamit 6 với montmorillonit. Khi so sánh với polyamit thông thường, vật liệu nanocomposit chế tạo được có các tính chất cơ lý tốt hơn.
Vật liệu nanocomposit cải thiện và nâng cao nhiều tính năng hơn so với composit như tăng độ bền kéo, độ bền va đập, độ bền nhiệt, độ bền uốn, độ kháng mài mòn, tăng khả năng chống cháy, tăng độ trong, giảm ảnh hưởng và tác động của môi trường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các phương pháp chế tạo vật liệu nanocomposit Có nhiều phương pháp và tên gọi khác nhau để tổng hợp polyme nanocomposit. Các phương pháp và kỹ thuật mới hiện nay vẫn đang tiếp tục phát triển.
Tuy nhiên có thể chia làm ba phương pháp chính như sau: Tổng hợp trong dung môi (solvent polymerization): phương pháp này dựa trên một hệ thống dung môi, trong đó polyme có thể tan được và những lớp đất sét có thể trương nở được. Trước tiên các lớp đất sét được trương nở trong dung môi như nước, cloroform, toluen, axeton, diclorometan,… Sau đó polyme tiếp tục được hòa tan. Khi polyme và sét được trộn lẫn trong dung môi, những mạch polyme đan xen vào giữa hai lớp đất sét cùng với dung môi. Dung môi được loại đi bằng cách làm bay hơi nên cấu trúc đan xen vẫn được giữ lại, hình thành vật liệu nanocomposit.
Phương pháp tổng hợp trong dung môi. Trùng hợp in-situ (in-situ intercalation): trong kỹ thuật này, đất sét được trương lên trong dung dịch monome (hoặc monome lỏng), sau đó ta có thể tạo ra polyme giữa những lớp đất sét bằng cách tiến hành trùng hợp. Quá trình trùng hợp có thể khơi mào bằng cách gia nhiệt, bứt xạ, dùng chất khơi mào phân tán, chất khơi mào hữu cơ, các chất xúc tác liên kết với trao đổi cation bên trong các lớp trước khi trương lên bởi monome. Quá trình trùng hợp tạo ra các lực phân tán các lớp khoáng sét vào polyme, cũng như làm tách lớp và thay đổi cấu trúc đất sét hình thành vật liệu nanocomposit.
Đây là một trong những phương pháp đầu tiên sử dụng để gia công nanocomposit và là phương pháp khá hiệu quả cho vật liệu có tính chất tốt. Phương pháp trùng hợp in-situ. Đan xen nóng chảy (melting intercation): đất sét được phối trộn với ma trận polyme ở trạng thái nóng chảy. Dưới những điều kiện thích hợp và nếu bề mặt lớp silicat tương hợp đủ tốt với polyme, polyme có thể len lỏi vào trong khoảng không gian bên trong giữa các lớp đất sét và tạo thành vật liệu nanocomposit có cấu trúc chèn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 hoặc tách lớp.
Phương pháp này có những thuận lợi hơn các phương pháp khác. Trước tiên, phương pháp này thân thiện với môi trường vì không có sự hiện diện của dung môi hữu cơ. Hai là có thể tương hợp với những quy trình công nghiệp gia công nhựa hiện nay như: ép đùn, đúc khuôn, trộn kín,… Phương pháp này còn cho phép sử dụng những polyme không thể polyme hóa in-situ hoặc ít hòa tan được trong dung môi. Phương pháp đan xen nóng chảy.
Trong vật liệu nanocomposit, đất sét phân tán trong vật liệu nền với các dạng: Hình 1. Các dạng phân tán của đất sét trong nền polyme. Khi nanoclay được trộn vào trong nền polyme thì có ba cấu trúc tồn tại có thể có của composit: dạng tách rời hai pha nhau (dạng microcomposit), dạng chèn (dạng nanocomposit) và dạng tách lớp (dạng nanocomposit). Đối với dạng tách rời nhau: các hạt đất sét được phân tán trong ma trận polyme và các lớp vẫn giữ nguyên trạng thái cũ, không có thay đổi cấu trúc lớp sét.
Sự trộn lẫn giữa polyme và organo-clay là dạng microcomposit, với các hạt sét chỉ bị bao phủ bên ngoài. Đối với hai dạng cấu trúc chèn và tách lớp là hai dạng nanocomposit. Cấu trúc chèn xảy ra khi một phần polyme chui vào các lớp trong khoang sét và nong rộng các lớp này ra, tạo thành cấu trúc trật tự. Ở cấu trúc tách lớp, các lớp khoang sét được phân tán hoàn toàn và tồn tại dưới dạng các đơn lớp riêng biệt trong ma trận polyme.
Sự hình thành các cấu trúc chèn và cấu trúc tách lớp phụ thuộc vào loại và liều lượng của nanoclay được sử dụng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tính chất của vật liệu nanocomposit Vật liệu nanocomposit có những tính chất ưu việt hơn những vật liệu khác. Chính vì lý do này mà nanocomposit ngày nay đang được nghiên cứu rộng rãi và bắt đầu được đưa vào ứng dụng.
Những ưu điểm chính của vật liệu này là: Tăng độ bền cơ lý (mođun, ứng suất,…) Tăng độ bền nhiệt Giảm tính thấm khí Giảm khả năng bốc cháy Tăng tốc độ phân hủy sinh học 1. Các phương pháp phân tích cấu trúc polyme nanocomposit 1. Nhiễu xạ tia X 1. Sơ lược về nhiễu xạ tia X Nhiễu xạ tia X là hiện tượng các chùm tia X nhiễu xạ trên các mặt tinh thể của chất rắn do tính tuần hoàn của cấu trúc tinh thể tạo nên các cực đại và cực tiểu nhiễu xạ.
Kỹ thuật nhiễu xạ tia X (thường viết gọn là nhiễu xạ tia X) được sử dụng để phân tích cấu trúc chất rắn, vật liệu,…Xét về bản chất vật lý, nhiễu xạ tia X cũng gần giống với nhiễu xạ điện tử, sự khác nhau trong tính chất phổ nhiễu xạ là do sự khác nhau về tương tác giữa tia X với nguyên tử và sự tương tác giữa điện tử và nguyên tử. Nguyên lý của nhiễu xạ tia X [29] Hiện tượng các tia X nhiễu xạ trên các mặt tinh thể chất rắn, tính tuần hoàn dẫn đến việc các mặt tinh thể đóng vai trò như một cách tử nhiễu xạ. Hiện tượng tia X nhiễu xạ trên mặt tinh thể chất rắn. Xét một chùm tia X có bước sóng λ chiếu tới một tinh thể chất rắn dưới góc tới θ.
Do tinh thể có tính chất tuần hoàn, các mặt tinh thể sẽ cách nhau những khoảng đều đặn d, đóng vai trò giống như các cách tử nhiễu xạ và tạo ra hiện tượng nhiễu xạ của các tia X. Nếu ta quan sát các chùm tia tán xạ theo phương phản xạ (bằng góc tới) thì hiệu quang trình giữa các tia tán xạ trên các mặt là: ΔL = 2.sinθ Như vậy, để có cực đại nhiễu xạ thì góc tới phải thỏa mãn điều kiện: ΔL = 2.λ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 n là số nguyên biểu thị độ nhiễu xạ, n = 1, 2,… λ là bước sóng của tia X, d là khoảng cách cơ bản của nanoclay, θ là góc giữa tia tới và mặt phẳng phản xạ. Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) [30] Là phương pháp để quan sát cấu trúc của vật liệu với độ phóng đại rất lớn (~400. Phương pháp này dùng một chùm electron hội tụ (bằng một thấu kính từ) có năng lượng cao xuyên qua một màng vật liệu rất mỏng, ảnh hưởng của nó với cấu trúc của vật liệu sẽ làm thay đổi năng lượng của từng electron.
Chùm điện tử khi đi qua màng vật liệu sẽ được chiếu vào một màn huỳnh quang. Từ đó có thể quan sát được (và dự đoán được) cấu trúc và sự phân bố của các hạt nano có trong vật liệu nanocomposit. Sơ lượt về khoáng sét [31] 1. Cấu trúc Clay là một loại khoáng của đất sét tự nhiên hoặc bentonit tổng hợp bao gồm những nhóm silicat ngậm nước của nhôm, magiê, sắt có thể chứa Na+, Ca2+, K+ và những ion khác.
Tùy thành phần và cấu trúc mà đất sét có thể gồm nhiều loại khoáng: mica, caolinit Al2(Si2O5)(OH)4, halloysit Al2(Si2O5)(OH)4.2H2O, montmorillonit Mx(Al4–xMgx)Si8O20(OH)4, pirophilit Al2(Si2O5)2(OH)2, illit Al2-xMgxK1-x- y(Si1,5yAl0,5+yO5)2(OH)2, hectorit, aponit… Loại nanoclay đầu tiên được tìm thấy trên thế giới là montmorillonit (ở Montmorillon, Pháp, năm 1874), và đây cũng là loại khoáng sét được ưu chuộng nhất. Cấu trúc của montmorillonit. Wilm công bố cấu trúc tinh thể lý tưởng của montmorillonit. Cấu trúc này bao gồm 2 tấm tứ diện chứa silic và 1 tấm bát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 diện chứa nhôm hoặc magiê diện bị kẹp giữa 2 tấm tứ diện.
Các tấm này có chung các nguyên tử oxy ở đỉnh. Độ dày của mỗi lớp clay khoảng 9,6Å. Khoảng cách giữa hai lớp clay bằng tổng độ dài của chiều dày một lớp nanoclay với khoảng cách giữa hai lớp nanoclay được gọi là khoảng cách cơ bản (gọi tắt là khoảng cách d). Độ dày tinh thể từ 300Å đến vài μm hoặc lớn hơn, tùy thuộc loại silicat.