1603 chuyển biến trong đời sống văn hóa của cộng đồng dân tộc kor ở huyện trà bồng tỉnh quảng ngãi 1986 2020 luận văn tốt nghiệp

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu 1603 chuyển biến trong đời sống văn hóa của cộng đồng dân tộc kor ở huyện trà bồng tỉnh quảng ngãi, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2020

122
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Chuyển biến văn hóa

Luận văn tập trung phân tích sự chuyển biến văn hóa trong đời sống của cộng đồng dân tộc Kor tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi từ năm 1986 đến 2020. Sự chuyển biến này được thể hiện qua cả hai khía cạnh vật chất và tinh thần, phản ánh tác động của các chính sách đổi mới kinh tế - xã hội. Nghiên cứu nhấn mạnh sự thay đổi trong các hoạt động kinh tế, văn hóa truyền thống, và giáo dục, đồng thời đặt ra vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

1.1. Chuyển biến trong đời sống vật chất

Sự chuyển biến trong đời sống vật chất của cộng đồng dân tộc Kor được thể hiện qua các hoạt động kinh tế như trồng trọt, chăn nuôi, và thủ công nghiệp. Các hình thức cư trú, ăn uống, trang phục cũng có sự thay đổi đáng kể, phản ánh sự hội nhập với các giá trị hiện đại. Nghiên cứu chỉ ra rằng, từ năm 1986, các chính sách phát triển nông thôn đã giúp cải thiện đáng kể điều kiện sống của người Kor.

1.2. Chuyển biến trong đời sống tinh thần

Đời sống tinh thần của cộng đồng dân tộc Kor cũng có nhiều chuyển biến đáng chú ý. Các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống được bảo tồn và phát huy, nhưng cũng chịu ảnh hưởng từ văn hóa hiện đại. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của giáo dục và các thiết chế xã hội trong việc duy trì bản sắc văn hóa dân tộc.

II. Cộng đồng dân tộc Kor

Luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về cộng đồng dân tộc Kor tại huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi. Nghiên cứu khẳng định người Kor là cư dân bản địa với lịch sử lâu đời, có nguồn gốc từ vùng núi Trà Bồng. Cộng đồng này có thiết chế xã hội bền vững, với các giá trị văn hóa đặc trưng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

2.1. Nguồn gốc và địa bàn cư trú

Người Kor có nguồn gốc từ vùng núi Trà Bồng, với lịch sử cư trú lâu đời. Nghiên cứu chỉ ra rằng, họ là một trong những cư dân bản địa của khu vực này, với các bằng chứng khảo cổ và lịch sử hỗ trợ. Địa bàn cư trú của người Kor chủ yếu tập trung tại các xã miền núi của huyện Trà Bồng.

2.2. Thiết chế tổ chức xã hội

Cộng đồng người Kor có thiết chế tổ chức xã hội chặt chẽ, với các quy tắc ứng xử và giá trị văn hóa được duy trì qua nhiều thế hệ. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của các lễ hội, phong tục, và tín ngưỡng trong việc gắn kết cộng đồng.

III. Đời sống văn hóa

Luận văn phân tích sâu về đời sống văn hóa của cộng đồng dân tộc Kor, bao gồm cả đời sống vật chất và tinh thần. Nghiên cứu chỉ ra rằng, đời sống văn hóa của người Kor là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, với các giá trị văn hóa được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh xã hội đang thay đổi.

3.1. Đời sống văn hóa vật chất

Đời sống vật chất của người Kor được thể hiện qua các hoạt động kinh tế như trồng trọt, chăn nuôi, và thủ công nghiệp. Nghiên cứu chỉ ra rằng, từ năm 1986, các chính sách phát triển nông thôn đã giúp cải thiện đáng kể điều kiện sống của cộng đồng này.

3.2. Đời sống văn hóa tinh thần

Đời sống tinh thần của người Kor được thể hiện qua các phong tục, tín ngưỡng, và lễ hội truyền thống. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của các hoạt động văn hóa trong việc duy trì bản sắc dân tộc và gắn kết cộng đồng.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Luận văn không chỉ có giá trị học thuật mà còn có ý nghĩa thực tiễn lớn. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan chức năng đề ra chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với cộng đồng dân tộc Kor. Đồng thời, luận văn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Kor.

4.1. Giá trị học thuật

Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện về sự chuyển biến văn hóa của cộng đồng dân tộc Kor, cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho các nghiên cứu tiếp theo về văn hóa dân tộc.

4.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng để đề xuất các chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại huyện Trà Bồng, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Kor.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một vụ sản xuất mới, vốn là công việc nhọc nhằn kéo dài cả tháng trời nên gia đình những thành viên có thể làm lụng đều phải tham gia. Lối canh tác nương rẫy rất khác với kiểu canh tác ruộng đất ở đồng bằng, chu kỳ canh tác nương rẫy của người Kor gắn liền với bộ nông cụ riêng dành cho từng khâu sản xuất. Bộ nông cụ này khá đơn giản như rìu, rựa, gậy chọc lỗ, ống đựng hạt giống, nạo cỏ, gùi. Khi phát rẫy thì dùng rìu rựa.

Rìu dùng để chặt các cây lớn. Rựa tương tự của người Kinh, nhưng thường có mấu dài hơn, để chặt phát cây nhỏ. Mặc khác, cũng giống như các dân tộc khác ở trong vùng, người Kor có tín ngưỡng hồn lúa, hồn lúa được tôn thờ, thể hiện đậm nét của thời kỳ cổ sơ, khi con người mới biết đến cây lúa và biết trồng lúa để làm thức ăn chủ lực. Với họ, lúa rẫy được xem như loại cây thực phẩm với cái tên “nhạc trưởng”.

Trên cái gu thờ của người Kor, cây lúa tuy 17 được khắc vạch chỉ vài nét đơn sơ nhưng rất thực, rất sinh động. Trước khi suốt lúa, người Kor làm lễ mừng lúa mới. Sau khi thu hoạch xong, người ta làm lễ giã rạ tạ ơn thần linh, với lời khẩn “Mo Hwýt âm va, Mo Rít âm va, Mo Crai âm va” [6, tr. Ngoài ra, cộng đồng dân tộc Kor gắn liền trong sản xuất nông nghiệp với sự kính ngưỡng đối với các thần cho lúa cho thấy người Kor rất coi trọng cây lúa, rất hàm ơn trời đất đã tạo ra cây lúa, gieo trồng cây lúa và các lễ thức của nó, mang đậm nét văn hóa Kor là đây.

Trước ngày trỉa lúa, người Kor làm lễ xuống giống với lễ thức là gà, rượu, gạo, trầu, xin các thần phù hộ cho lúa mọc đều và không bị côn trùng chim chóc ăn hại. Theo mô tả của các tác giả nghiên cứu về vấn đề này có viết:“Khi trỉa lúa, nam đi trước cầm gậy chọc lỗ, mỗi lỗ thường phải chọc hai lần cho đủ độ sâu, nữ theo sau tra hạt. Nữ tay cầm ống đựng hạt giống đổ vào tay kia, mỗi lỗ bỏ chừng năm bảy hạt giống để nện lấp. Nhà nào thiếu nhân công thì nhờ vòng đổi công ở những người trong nóc, không để việc trĩa lúa cùng trên một rẫy mà kéo quá dài nhiều ngày” [6, tr.

Trong mạch sống và văn hóa vật chất, đã có sự xuất hiện của lúa nước. Trong truyền thống của người Kor không trồng lúa nước mà chỉ lúa rẫy. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp: “Đồng bào các xã vùng cao có sự chuyển biến mới trong việc sản xuất lúa nước ở các nà dọc sông, suối như Nà Niêu, Vực Môn, nà Cha Ngập, vùng Trà Biêu,… Đồng bào còn tỉa bắp, đậu, trồng bí, dưa, xen kẽ với lúa rẫy, đẩy mạnh trồng, chăm bón và khai thác quế đổi gạo, muối, vải… đồng thời giảm bớt việc đâm trâu trong các dịp cúng tế, lễ hội. Đồng bào các xã vùng thấp đưa ruộng lúa nước từ một vụ lên hai vụ/năm, không làm bún bằng gạo, dùng bột củ mì làm bún, bánh tráng thay gạo” [2, tr.

Từ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở thung lũng Nà Niêu (xã Trà Phong), ở làng Tà Ót (xã Trà Tân) đã bắt đầu 18 khai khẩn để làm lúa nước và từ đó xuất hiện nên nhiều nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Trong một nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp có rất nhiều lễ cúng như: Lễ cúng phát rẫy, lễ cúng tỉa lúa, lễ cúng rước hồn lúa về kho lúa lễ cúng cơm mới, lễ cúng ma chòi lúa, lễ cúng máng nước, lễ cúng chim Sip-tar- pleo diệt trừ sâu phá quế,… Chính vì thế, khái niệm thần thánh của người Kor được hiểu rất rộng với nhiều loại khác nhau. Các vị thần linh có thể trợ giúp, phù hộ cho con người và cũng có thể gây hại cho con người. Người Kor họ tưởng tượng ra trên núi cao, vách đá cũng đầy các thế lực huyền bí khiến họ không dám phá chặt cây cối để làm rẫy quanh khu vực đó.

Theo họ, dường như tất cả mọi vật đều gắn bó với sự tồn tại và chi phối của các lực lượng siêu nhiên. Có nước uống là nhờ ma cho nước; của cải có thể sinh sôi làm cho con người giàu có được là nhờ ong cho hàng,… Ví như một bài cúng cơm mới của người Kor có đoạn: “Hú ơ! Mời các thần linh coi sóc nương rẫy, giữ hồn giống lúa, cây trồng, nay lúa trên rẫy đã chín. Trước khi thu hoạch, để cảm tạ các thần cúng chúng tôi xin cúng dân cơm, cá, rượu, thịt, trầu, thuốc mời các vị thần trông coi giống lúa, giống cây trồng, coi sóc rẫy cử, chòi lúa, kho lúa cùng các vị thần trông coi nhà cửa, giữ lửa cùng hưởng lễ xin mời dùng thịt, xin mời uống rượu, no sây vui vẻ xong rồi, xin hãy cấp (ban) cho lúa được đầy gùi, đầy kho, tuốt năm bảy bông lúa được đầy một đát (giỏ nhỏ), tuốt một rẫy lúa đầy kho trong nhà, đầy chòi ngoài rẫy. Xin hãy thương cho gạo nấu cơm nở đủ mời cả làng, cơm ăn trong nồi luôn thừa, không cạn.

Xin hãy ban cho làm ăn no đủ, không bị ốm đau, năm sau lúa tốt sẽ cúng nhiều hơn” [19, tr. Văn hóa ăn, mặc, ở và đi lại Theo quan niệm của người Kor, trang phục, trang sức của phụ nữ, đàn ông Kor phải đảm bảo yếu tố tạo dáng và đường nét được trang trí bằng hoa văn do chính bàn tay khéo léo của con người làm nên, phù hợp với điều kiện tự 19 nhiên và môi trường sống, tạo cảm giác thỏa mái khi mặc cũng như thuận lợi trong lao động và việc đi lại trên núi cao. Vẻ đẹp của người đàn ông Kor được quan niệm là vẻ đẹp tự nhiên của thân thể nên trang phục đàn ông thường đơn giản, còn vẻ đẹp trang phục của phụ nữ là phải được trang trí, tạo ra những đường nét, sắc màu, làm tôn thêm vẻ đẹp tự nhiên của họ. Trang phục thường ngày của người đàn ông Kor là ở trần, đóng khố, mùa đông quấn thêm một tấm choàng.

Khố thường ngày là một dải vải dệt bằng sợi, màu xanh, đến xanh đen, dài khoảng 3 mét - 3,15 mét, rộng 25 cm, hai mép ngoài theo chiều dọc có viền vải xanh nhạt. Hai đầu khố cũng có khi nẹp vào một dải hoa văn, theo chiều ngang trong tiết diện rộng 5 cm, với các răng nhỏ màu vàng, màu đỏ liền nhau. Còn khi trời lạnh, đàn ông Kor thường khoác thêm tấm choàng, tấm choàng gồm hai tấm vải có khổ rộng 0,9 mét bằng bông sợi nối vào nhau để choàng vào mùa lạnh, thường được choàng qua hai vai, bắt chéo trước ngực và che kín phần ngực và toàn bộ phía sau lưng từ gáy xuống tới bắp chân. Tấm choàng cũng là chăn đắp về mùa lạnh của đàn ông.

Tấm choàng thường ngày, không thấy trang trí hoa văn [19, tr. Trong ngày lễ hội, đàn ông dân tộc Kor ở huyện Trà Bồng mặc khố bằng vải bông sợi, màu xanh đen, dài 3,6 mét, rộng 30 cm và quấn quanh bụng hai vòng. Trong ngày hội, người đàn ông mặc khố lễ, để thẳng mặt một đầu khố trước bụng với các tua đỏ chạy dài xuống quá đầu gối,… Bộ y phục truyền thống của phụ nữ Kor gồm có khăn đội đầu, áo cánh chui đầu và váy. Thường ngày họ mặc váy màu đen, dài đến bắp chân để thuận lợi cho việc đi lại trên địa hình núi cao, có độ dốc lớn.

Khăn đội đầu là một tấm vải bằng sợi màu đen hoặc màu xanh đậm, khăn được quấn vòng trước trán và buộc ở phía sau rồi thả xuống. Xưa kia đàn ông, đàn bà người Kor hầu như không cắt tóc, người ta cứ để tóc dài tự nhiên, búi tóc sau ót, dùng chiếc lược cong tự tạo hoặc dùng vải buộc, dùng que lông nhím để cài. Không 20 có xà phòng, người siêng lắm cũng chỉ gội đầu bằng quả cam chua lấy ở rừng. Người ta dùng lược tự tạo để chải đầu, nhưng do dầm sương dãi nắng và không thường gội đầu nên có nhiều chấy rận.

Có người tóc vón lại thành từng lọn. Trong bữa ăn hàng ngày của họ, trên cơ sở cơ cấu của nền nông nghiệp với trồng lúa rẫy giữ vai trò chủ đạo, cây lúa là cây lương thực chính, nên người Kor ở đây coi thóc gạo là lương thực chính, trong đó có gạo ba lốp - loại gạo đỏ, hạt cứng được đồng bào sử dụng hàng ngày. Họ thường cho lúa vào cối giã, rồi giần sạch sẽ và đem nấu cơm cho cả gia đình. Cũng có khi một lần giã gạo đủ nấu cho hai, ba ngày.

Để có được bữa cơm trong gia đình đều phải làm thủ công dưới sức mạnh, bàn tay của họ. Mặc khác, cây lúa nếp thích hợp với môi trường nơi đây, nên rất nhiều. Theo mô tả của các tác giả khi nghiên cứu về văn hóa Kor:“Người Kor thường nấu cơm nếp (cơm lam) trong ống nứa. Đồng bào vào rừng lấy nứa non còn tươi, dứt thành từng ống, chặt một đầu, đổ nếp đã ngâm vào nước vào, đậy nút bằng lá rừng rồi đốt trên lửa.

Khi cơm sôi và cạn, người ta xoay ống nứa nướng dần trên than cho chín. Khi ăn người ta tách vỏ nứa đã cháy dở ra để lấy thỏi cơm. Cơm nếp nấu bằng ống nứa dẻo, thơm ngon và rất tiện cho việc đem theo khi làm rẫy” [16, tr. Việc tổ chức các bữa ăn hàng ngày của cộng đồng dân tộc Kor ta thấy rằng nhìn chung phụ thuộc vào nhịp điệu của lịch canh tác lúa rẫy.

Trong những ngày nông nhàn, họ thường ăn hai bữa, buổi sáng vào khoảng 7 - 8 giờ, buổi chiều khoảng 18 - 19 giờ. Xế trưa, người già và trẻ em có thể ăn thêm đồ ăn còn lại từ sáng. Vào dịp làm mùa, đồng bào thường ăn ba bữa trong ngày. Bữa sáng thường ăn trước 6 giờ, bữa chiều vào khoảng 19 - 20 giờ.

Bữa trưa được ăn ngay tại rẫy với các đồ ăn được đem theo. Người Kor có thói quen trong sinh hoạt đó là ăn trầu và dường như nó đã phổ biến. Mỗi hộ gia đình người đàn ông và đàn bà điều nghiện trầu, nên mới xuất hiện thuật ngữ mà người Kinh đặt cho là “mọi Trầu”. Sở dĩ như thế, 21 bởi xuất phát ở vùng núi cao, ban đêm và mùa đông rất lạnh, ăn trầu có thể giúp cho cơ thể nóng lên, ấm.

Hơn nữa, người Kor cho rằng nước quết trầu không chỉ tốt với vệ sinh răng miệng mà còn làm cho môi tươi hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đồ án tốt nghiệp xây dựng hệ thống chatbots tự động" cung cấp cái nhìn chi tiết về quá trình thiết kế và triển khai hệ thống chatbot tự động, một công nghệ đang được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Đồ án này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn mà còn mang lại lợi ích thực tiễn cho doanh nghiệp trong việc tự động hóa quy trình tương tác với khách hàng. Để hiểu sâu hơn về các ứng dụng công nghệ trong thực tế, bạn có thể tham khảo thêm Đồ án tốt nghiệp ngành điện tự động công nghiệp thiết kế xây dựng hệ thống định mức và chiết rót chai tự động, nơi trình bày chi tiết về việc áp dụng tự động hóa trong sản xuất. Ngoài ra, nếu quan tâm đến lĩnh vực pháp lý liên quan đến doanh nghiệp, Khóa luận tốt nghiệp luật kinh doanh hoàn thiện pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam sẽ là tài liệu hữu ích để bạn mở rộng kiến thức.