CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN LIEN QUAN DEN DE TAI 1. Cơ sỡ lý luận về đọc, kế điễn cảm 1. Khái niệm liên quan đến đề tài 1. Đọc, ké Theo nhà nghiên cứu Lê Phương Nga thì đọc là một trong bến dang hoạt động ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viế) nhằm chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng), hoặc là quá trình chuyển trục tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không, có âm thanh (ứng với đọc thầm).
Như vậy, đọc nhằm giải một bộ mã gém hai bậc: từ chữ sang âm, từ âm sang nghĩa. Thông qua đọc, con người sẽ có khả năng, chế ngự một phương tiện văn hóa cơ bản giúp họ giao tiếp được thế giới bên trong của người khác, thông hiểu được tr tưởng, tình cảm của người khác. Đọc giúp con người hưởng thụ một cách tích cực các giá trị giáo dục của xã hội, hình thành một nhân cách toàn diện. Đặc biệt, trong thời đại bùng nổ thông tỉn hiện nay, hoạt động đọc có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa con người tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, kênh truyền thông khác nhau nhằm làm giàu trỉ thức và kinh nghiệm sống cho bản thân mình.
Kể chuyện là nói rẽ đầu đuôi, là “#Ê một chuỗt sự việc có đầu có cuối, có liên quan đến một hay một sỐ nhân vật, mỗi câu chuyện cân nói lên được một điều gì đó có nghĩa” (Lê Phương Nga). Đọc, kể diễn cảm Đọc diễn cảm, về cơ bản, là một hình thức đặc biệt của đọc thành tiếng, được đặt ra khi đọc các văn bản văn chương hoặc văn bản có chứa các yếu tổ của ngôn từ nghệ thuật. Như vậy, có thể nói, đọc diễn cảm chính là đọc thành tiếng ở chất lượng cao, thể hiện ở chế người đọc làm chủ các yếu tố âm thanh như trọng âm, ngữ giọng điệu để tái hiện lại thế giới nghệ thuật của tác phẩm, làm sống đậy tr tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong bài đọc, đồng thời, việc đọc đó còn thể hiện được sự đồng cảm của chính người đọc đối với những gì được trình bày trong tác phẩm. Điều này cũng có nghĩa, dé đọc diễn cảm, người đọc cần phải hiểu thấu đáo bài đọc.
Chỉ khi thực sự thâm nhập vào tác phẩm, khi mà thế giới trong sáng tác của nhà văn, nhà thơ chạm được vào tâm hồn người đọc, ngân lên những rung động thẩm mĩ, chúng ta mới có thể thể hiện thành công việc đọc diễn cảm, mới thực hiện được nhiệm vụ chuyên chở các tín hiệu thẩm mĩ từ tác phẩm đến người nghe. Cũng giống như đọc diễn cảm, kể diễn cảm tác phẩm văn học là một hoạt động mang tính nghệ thuật. Người kể, bằng ngôn ngữ, giọng điệu, cử chỉ, nét mặt. đã tạo dựng lại thế giới sinh động của các nhân vật, các biến cố đã được tác giả xây dựng nên, dẫn dắt người nghe sử dụng trí tưởng trợng phong phú của mình để hóa thân vào các nhân vật trong câu chuyện, tham gia vào các sự kiện trong tác phẩm.
Khả năng đọc, ké dién cảm Kha nang doc, kể diễn cảm là loại năng lực cảm thụ nghệ thuật thể hiện ở việc con người sử dụng có kết quả giọng đọc và các yếu tố phi ngôn ngữ vào vi tái tạo âm thanh, điệu tính, nội dung thích hợp và đúng đắn với tác phẩm; truyền đạt tư tưởng tình cảm của tác giả gửi gắm trong tác phẩm giúp người nghe nhìn thấy những gì nghe được và khơi gợi lên ở họ những rung động, cảm xúc dựa trên những tri thức và kinh nghiệm của cá nhân đã được tích lũy. Khả năng đọc, kể diễn cảm là yêu cầu cơ bản của hoạt động dạy học thơ văn. Nó đòi hỏi con người phải được rèn luyện và thường xuyên được củng cố trong các hoạt động hằng ngày. Vì thế, người giáo viên không chỉ nhằm giúp trẻ học thuộc lòng thơ, truyện kể mà còn giúp trẻ hình thành những kĩ năng đọc, kế diễn cảm, làm nên tảng cho việc tập đọc của trẻ trong những giai đoạn tiếp theo.
Khả năng đọc, kể diễn cảm bao gồm các kĩ năng bệ phận:kỹ năng làm chủ hơi thở; kỹ năng phát âm, kỹ năng làm chủ giọng điệu văn bản; kỹ năng làm chủ ngữ điệu 1. Bắn chất của hoạt động đọc, kể điễn cắm Doc diễn cảm là thể hiện một cách biểu cảm văn bản bằng giọng đọc, qua đó, chuyển tải được tư tưởng, cảm xúc của tác giả cũng như sự đồng cảm và xúc cảm riêng có của người đọc đến với người nghe. Đây rõ ràng là một công việc không hề đơn giản. Bởi vì, khi đọc người đọc phải lệ thuộc vào văn bản, không, được thêm bớt câu chữ, dấu chấm, đấu phẩy.
Do vậy, tài năng của người đọc là phải làm thế nao dé không để sự lệ thuộc ấy hạn chế khả năng sáng tạo của mình, phải hiểu được, mệt câu thơ, câu văn dù giữ nguyên số câu chữ, dấu chấm câu cũng có năm bảy cách đọc. Về vấn đề này nhà văn A.Tsêkhốp trong truyện ngắn Mững cảm xúc mãnh liệt đã từng nói: “Tôi đám chắc rằng một từ nào cũng có đến một nghìn nghĩa và sắc thái khi xem sắc từ góc độ nó được đọc lên như thé nào? (Phương pháp đọc diễn cảm), [2,tr. Đọc diễn cảm là một nghệ thuật có đặc điểm riêng, nó không lặp lại người khác, không chỉ truyền đạt trung thành máy móc bài văn mà còn thể hiện dấu ấn sáng tạo của cá nhân người đọc. Đọc như thế nào sẽ gây được chắn động tâm hẳn trên cơ sở những mĩ cảm ngôn ngữ văn học và khả năng biểu diễn của người đọc.
Cách đọc này sẽ có sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe và làm sáng tỏ thêm nội dung, ý nghĩa của tác phẩm văn học. Nó bệc lộ thiên hướng năng lực và những, phẩm chất cá nhân người đọc. Rõ ràng đọc diễn cảm mang đầy đủ tính nghệ thuật. Đọc diễn cảm là hình thức của đọc văn chương.
Nó vượt qua việc đọc những tín hiệu ngôn ngữ, từ kí hiệu chữ viết sang kí hiệu âm thanh tạo ra năng lực đọc văn (tức là từ chỗ đọc chính tả tiến tới đọc ngôn ngữ và sau cùng là đọc văn). Đọc diễn cảm là hình thức riêng của việc đọc văn có sự tham gia bề sung hỗ trợ của năng lực diễn đạt bằng cử chỉ, điệu bộ, tâm thế, đáng vẻ, giọng điệu, ngữ điệu, âm sắc, màu sắc cảm xúc của ngôn ngữ. Các bài thơ, các câu truyện kể được đọc lên trong hoạt động cho trẻ làm quen với văn học là những văn bản nghệ thuật mà hệ thống ngôn ngữ của nó được tổ chức chặt chế theo các quy luật của tr duy nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật. Tác phẩm thơ văn vừa là phương tiện phản ánh đồng thời là đối tượng thẩm mĩ và là phương tiện tự biểu hiện.
Vì vậy, đọc diễn cảm là bước vào lĩnh vực nghệ thuật, nghệ thuật trình tấu hệ thống, hình tượng, âm thanh các tác phẩm văn học. Bản chất của đọc dién cảm là lao động sáng tạo, là biểu diễn nghệ thuật đọc và truyền đạt mọi cái hay cho người ngÌ: Cũng giếng như đọc diễn cảm, kể diễn cảm cũng là một hoạt động nghệ thuật nhằm truyền đạt những sự kiện, hành động, xung đệt của câu chuyện đến người nghe bằng lời và có kèm theo các yếu tố phi ngôn ngữ. Kể diễn cảm cũng là quá trình lao động sáng tạo. Trong quá trình kể người kể sáng tạo nhiều hơn đọc, người kể không lệ thuộc hoàn toàn vào văn bản mà có thể phối hợp sử dụng ngôn ngữ tác phẩm và ngôn ngữ của mình.
Tuy nhiên, sáng tạo không có nghĩa là tạo câu chuyện khác mà tạo nên hình thức truyền đạt thể hiện ở lời kể và sự phối hợp nét mặt, cử chỉ. không làm biến dạng nội dung câu chuyện. Bằng sự cảm thụ riêng, người kể có thể nhấn mạnh ý chính, những tình tiết hay, hình ảnh đẹp với nhiều cách trình bày khác nhau. Ké chuyện tùy thuộc rất nhiều vào mục đích, khả năng cảm thụ, khả năng hoạt động nghệ thuật và trí nhớ của người kẻ.
Khi kể chuyện, tùy theo từng thể loại mà người kể vận dụng giọng kể khác nhau. Phần lớn, trong quá trình kể, người kể thường kể bằng giọng chậm hơn đọc, tính giao tiếp cao hơn cùng với việc trình bày khéo léo làm cho lượng, thông tin được giản ra, làm cho người nghe đỡ căng thẳng khi theo dõi. Đối với kể chuyện văn học trong trường mầm non, việc phối hợp giọng kể với những cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt. sẽ giúp trẻ cảm nhận sâu hơn, hiểu rõ hơn ý nghĩa của truyện.
Bằng sự cảm thụ riêng của cô, ý nghĩa tác phẩm đã vượt ra ngoài văn bản. Lời kể của cô như là sự bể sung tạo nên mối quan hệ thân tình giữa cô và trẻ. Kể diễn cảm tác phẩm văn học là một loại hình nghệ thuật phức tạp có sự chuẩn bị kĩ lưỡng. Việc chuẩn bi của người kể (cô giáo) đối với tác phẩm là một.
công việc sáng tạo. Để có thể kể tốt tác phẩm, người kể phải nghiên cứu kĩ tác phẩm, cân nhắc nội dung nghệ thuật của tác phẩm, hiểu thấu đáo ý của người viết và phải có được các kĩ năng, kĩ xảo kể tác phẩm diễn cảm. Sự nhạy cảm, sự quan tâm đến chủ định của tác giả sẽ giúp cho người kể tìm được ngữ điệu đúng từ đó xác định giọng điệu cụ thể của từng đoạn, từng phân, từng nhân vật và các lời bình. Việc chuẩn bị này đòi hỏi người kể không chỉ có trình độ, có kĩ năng mà còn phải có trí tưởng tượng nghệ thuật, thực sự đi sâu vào tác phẩm.
Vì vậy, đề thực hiện tốt hoạt động này thì người kể phải nắm được bản chất của việc kể và tập luyện nhiều đề có được kĩ năng, kỉ xảo, phải nắm được thủ thuật cơ bản của việc kể diễn cảm để khi kể sẽ biểu lộ cảm xúc một cách tốt nhất vào tác phẩm. Cơ sở khoa học của hoạt động đọc, kể diễn cam. Cơ sở sinh lí của hoại động đọc, ké dién cảm Âm thanh ngôn ngữ được tạo ra do hoạt động của bộ máy cấu âm trong con người. Bộ máy này gồm phổi, cuống phổi, thanh hầu, yết hầu, khoang mũi, khoang miệng.
Đây đều là những cơ quan vốn mang chức năng sinh lí khác như: ăn, hê hấp. và bất kỳ một ai cũng có bộ máy phát âm đó cả. + Phéi và khí quản cung cấp và dẫn truyền luỗng hơi chứ không trực tiếp tham gia vào việc phát âm.