Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Văn học đóng vai trò là một trong những phương tiện giáo dục nhân cách toàn diện cho trẻ mầm non về các mặt đạo đức, trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ. Trẻ ở lứa tuổi mầm non chưa biết chữ, nhận thức thế giới xung quanh chủ yếu mang tính trực quan cảm tính. Do đó, con đường tiếp cận với tác phẩm văn học của trẻ diễn ra thông qua hoạt động đọc và kể diễn cảm. Hoạt động này không chỉ giúp trẻ tiếp thu nội dung tác phẩm, phát triển ngôn ngữ, khả năng chú ý có chủ định mà còn hình thành năng lực cảm thụ nghệ thuật, rèn luyện sự tự tin và tính độc lập sáng tạo.

Tuy nhiên, trong thực tiễn giáo dục mầm non, việc rèn luyện kỹ năng đọc, kể diễn cảm cho trẻ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố phức tạp như năng lực tiếp nhận của trẻ, trình độ tổ chức của giáo viên và môi trường giáo dục. Hoạt động này còn bộc lộ nhiều điểm bất cập, chưa phát huy hết giá trị giáo dục. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Biện pháp phát triển khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ 4-5 tuổi ở trường Mầm non Điện Tiến - Điện Bàn - Quảng Nam" được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xác lập cơ sở lý luận về hoạt động đọc, kể diễn cảm và đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên và kỹ năng đọc, kể diễn cảm của trẻ 4-5 tuổi tại địa bàn nghiên cứu.
  3. Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ mẫu giáo nhỡ.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các biện pháp phát triển khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ 4-5 tuổi. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn tại khối mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) Trường Mầm non Điện Tiến, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong năm học 2015 - 2016.

Về lịch sử nghiên cứu, tác giả tổng thuật các công trình nền tảng:

  • Tài liệu quốc tế tiêu biểu có công trình "Đọc và kể chuyện văn học ở vườn trẻ" của hai tác giả người Nga M.K.Septsenko (Lê Đức Mạn dịch, NXB Giáo dục, 1978).
  • Các công trình trong nước gồm tài liệu "Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (2006), giáo trình "Phương pháp đọc diễn cảm" và "Phương pháp tổ chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học" (2011) của Hà Nguyễn Kim Giang; giáo trình "Phương pháp cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học" của Lã Thị Bắc Lý và Lê Thị Ánh Tuyết; cùng nghiên cứu chuyên khảo của Nguyễn Thị Tuyết Nhung và Phạm Thị Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Khóa luận vận dụng các khái niệm và cơ sở khoa học liên ngành:

  • Khái niệm đọc và kể chuyện: Vận dụng quan điểm của Lê Phương Nga, đọc là hoạt động giải mã hai bậc từ chữ sang âm và từ âm sang nghĩa; kể chuyện là nói rõ đầu đuôi một chuỗi sự việc có ý nghĩa liên quan đến nhân vật.
  • Đọc, kể diễn cảm: Đọc diễn cảm là hình thức đặc biệt của đọc thành tiếng ở chất lượng cao, làm chủ các yếu tố ngữ điệu, trọng âm, giọng điệu để tái hiện thế giới nghệ thuật. Kể diễn cảm là hoạt động nghệ thuật dùng lời nói kết hợp yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt) để tái hiện cốt truyện một cách sáng tạo mà không làm biến dạng nội dung văn bản.
  • Cơ sở sinh lý học: Dựa trên hoạt động của bộ máy cấu âm ở người (phổi, khí quản, thanh hầu, dây thanh, khoang yết hầu, khoang miệng, khoang mũi). Trẻ 4-5 tuổi có bộ máy phát âm và thính giác đang hoàn thiện, cho phép phát âm mềm dẻo các âm của tiếng mẹ đẻ.
  • Cơ sở tâm lý học: Dựa trên quy luật lây lan tình cảm trong giao tiếp nghệ thuật và sự phát triển mạnh mẽ của tư duy trực quan hình tượng, trí tưởng tượng sáng tạo và kiểu ghi nhớ có chủ định bắt đầu hình thành ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ.
  • Cơ sở ngôn ngữ học và văn học: Chuẩn chính âm tiếng Việt, các yếu tố ngôn ngữ siêu đoạn tính (ngữ điệu, cường độ, cao độ, trường độ) kết hợp nhạc tính, hệ thống từ láy, từ gợi hình, gợi cảm và các biện pháp tu từ (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ) trong tác phẩm văn học thiếu nhi.
  • Cơ sở pháp lý: Điều 22 Luật Giáo dục Việt Nam và Quyết định số 55 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về mục tiêu, kế hoạch đào tạo của bậc học mầm non.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu lý luận sư phạm, tâm lý học và phương pháp dạy học tiếng Việt - văn học mầm non.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp quan sát: Dự giờ, theo dõi trực tiếp các tiết dạy thơ và truyện kể tại lớp Mẫu giáo Nhỡ 1 và Mẫu giáo Nhỡ 2 ở Trường Mầm non Điện Tiến.
    • Phương pháp điều tra bằng Anket: Phát phiếu trưng cầu ý kiến tới 12 giáo viên trực tiếp đứng lớp 4-5 tuổi tại Trường Mầm non Điện Tiến và một số trường lân cận.
    • Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi chuyên sâu với giáo viên nhằm làm rõ nguyên nhân của thực trạng kỹ năng đọc, kể diễn cảm ở trẻ.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế và triển khai 2 đợt thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hoạt động đọc, kể diễn cảm cho trẻ mầm non. Tác giả chỉ rõ bản chất của đọc diễn cảm là quá trình lao động nghệ thuật sáng tạo, trong đó người đọc bị ràng buộc bởi câu chữ của văn bản nhưng tự do sáng tạo về sắc thái biểu cảm. Đối với kể diễn cảm, tính sáng tạo có biên độ rộng hơn khi giáo viên và trẻ có thể kết hợp ngôn ngữ tác phẩm với ngôn ngữ cá nhân, dùng cử chỉ, nét mặt để diễn giải.

Về vai trò giáo dục, hoạt động đọc và kể diễn cảm đóng góp vào sự phát triển nhân cách toàn diện:

  • Giáo dục đạo đức: Giúp trẻ phân biệt thiện - ác, hình thành tình cảm nhân ái qua các hình tượng văn học (như nhân vật Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám).
  • Nâng cao trí tuệ: Mở rộng hiểu biết về hiện tượng thiên nhiên (mưa, ngày đêm, hoa lá) và thế giới loài vật (đặc điểm con trâu, hổ, gà).
  • Giáo dục thẩm mỹ: Đánh thức cảm xúc rung động trước cái đẹp ngôn từ và hình tượng nghệ thuật.
  • Giáo dục lao động: Rèn luyện thói quen nỗ lực vận dụng các cơ quan phát âm, thính giác, tư duy và trí tưởng tượng.

Chương này cũng xác định các thủ thuật sư phạm chính (sử dụng đúng giọng điệu cơ bản, ngắt giọng tâm lý/logic/thi ca, điều chỉnh nhịp điệu, kiểm soát cường độ giọng nói, ứng dụng phương tiện trực quan) và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá kỹ năng đọc, kể diễn cảm ở trẻ mầm non.


Chương 2: Khảo sát khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ 4-5 tuổi ở trường Mầm non Điện Tiến - Điện Bàn - Quảng Nam

Tác giả khái quát tình hình Trường Mầm non Điện Tiến: trường công lập đạt chuẩn, quy mô 35 cán bộ giáo viên (2 đại học chính quy, 18 đại học liên thông, 10 cao đẳng, 5 trung cấp); quy mô học sinh gồm 3 lớp mẫu giáo bé (81 trẻ), 3 lớp mẫu giáo nhỡ (111 trẻ) và 3 lớp mẫu giáo lớn (120 trẻ).

Kết quả khảo sát 12 giáo viên thông qua phiếu điều tra được tổng hợp trong các bảng số liệu sau:

STT Nội dung khảo sát Tiêu chí đánh giá Số lượng (n=12) Tỷ lệ (%)
1 Tầm quan trọng của đọc, kể diễn cảm Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng
8
4
0
67,0%
33,0%
0,0%
2 Mức độ cần thiết của việc rèn kỹ năng Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
5
7
0
41,7%
58,3%
0,0%
3 Ý nghĩa đọc, kể diễn cảm đối với trẻ Phương tiện giáo dục thẩm mỹ, đạo đức, trí tuệ
Hiểu và cảm nhận sâu sắc tác phẩm
Tạo ham thích, phát triển tưởng tượng
8
7
5
66,7%
58,3%
41,7%
4 Yếu tố quan trọng nhất hình thành kỹ năng Khả năng tiếp thu của trẻ
Sự tác động của giáo viên
Môi trường tổ chức
11
10
7
91,7%
83,3%
58,3%
5 Đánh giá số lượng trẻ đạt kỹ năng tốt Mức dưới trung bình
Mức trung bình - khá
Mức tốt
10
2
0
83,3%
16,7%
0,0%

Về thực trạng kỹ năng thực tế của trẻ (Bảng 7 trong khóa luận):

  • 41,7% giáo viên nhận định trẻ chỉ mới đạt mức thuộc/nhớ văn bản, ngôn ngữ trôi chảy, lưu loát.
  • 33,3% nhận định trẻ đạt mức thuộc văn bản, phát âm to rõ, giọng truyền cảm.
  • Chỉ có 25,0% giáo viên cho rằng trẻ đạt mức độ tổng hợp (thuộc bài, phát âm rõ, có ngắt nghỉ, nhấn giọng và phối hợp cử chỉ, điệu bộ, nét mặt).

Qua dự giờ tại lớp Nhỡ 1 và Nhỡ 2, tác giả nhận thấy phương pháp dạy học phổ biến là giáo viên đọc/kể mẫu từng câu rồi cho trẻ đọc lặp lại nhiều lần cho đến khi thuộc lòng. Tiết dạy nặng về rèn trí nhớ cơ học, chưa chú trọng hướng dẫn ngắt nghỉ, cao độ và biểu cảm. Giọng đọc mẫu của giáo viên còn mang tính tự nhiên, thiếu sự biến hóa nghệ thuật.

Nguyên nhân của thực trạng gồm: thời lượng phân bổ cho hoạt động làm quen văn học trong ngày còn ít; nhận thức và kỹ năng đọc, kể mẫu của một bộ phận giáo viên chưa cao; đồ dùng trực quan còn đơn điệu, chủ yếu là tranh tĩnh có sẵn nên chưa thu hút trẻ.


Chương 3: Biện pháp và thực nghiệm phát triển khả năng đọc, kể diễn cảm tác phẩm văn học cho trẻ

Dựa trên nguyên tắc đảm bảo mục tiêu giáo dục mầm non và phù hợp đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 4-5, tác giả xây dựng hệ thống biện pháp cụ thể:

1. Hệ thống biện pháp dành cho giáo viên

  • Nâng cao chất lượng đọc, kể diễn cảm mẫu: Giáo viên chuẩn bị kỹ bài đọc, xác định giọng điệu cơ bản và thể hiện mẫu chuẩn xác để trẻ noi theo. Ví dụ, khi dạy bài thơ "Ông mặt trời" của Ngô Thị Bích Hiền, giáo viên sử dụng giọng điệu vui tươi, nhí nhảnh ở 4 câu đầu ("Ông mặt trời óng ánh / Tỏa nắng hai mẹ con..."), kết hợp ngẩng đầu, vẫy tay chào và cười tươi để làm mẫu trực quan cho trẻ.
  • Rèn luyện kỹ năng kể chuyện có nghệ thuật: Giáo viên nhập vai nhân vật, điều chỉnh sắc thái âm thanh (giọng sói hung dữ trong "Chú dê đen", giọng dê con nhẹ nhàng); vận dụng các hình thức ngắt giọng tâm lý để tạo sự hồi hộp (như đoạn ngắt giọng trước từ "Bỗng" trong truyện "Cô bé quàng khăn đỏ"); kiểm soát cường độ, độ vang của giọng.
  • Sử dụng đồ dùng trực quan linh hoạt, đa dạng: Chuyển đổi từ tranh tĩnh sang các đồ dùng tự làm từ nguyên liệu tái chế (mút xốp, bìa lịch cũ, vải vụn, đề can) như rối dẹt, rối tay, rối que, rối nước và tranh truyện động (ví dụ: tạo rãnh trượt trên bìa lịch để di chuyển nhân vật ếch, rùa, cáo trong truyện "Chú rùa thông minh").
  • Nắm vững tiêu chí và thủ thuật thể hiện giọng điệu: Phân định rõ giọng điệu cơ bản theo từng thể loại. Ví dụ: bài thơ "Gà mẹ đếm con" cần giọng hồn nhiên, tinh nghịch; truyện "Quả táo của ai" cần giọng tranh chấp gay gắt, dứt khoát của thỏ, nhím, quạ đối lập với giọng trầm, ôn hòa, chậm rãi của bác gấu.
  • Sử dụng hiệu quả yếu tố phi ngôn ngữ: Phối hợp nét mặt, ánh mắt, điệu bộ phù hợp với văn cảnh (ví dụ: giơ tay vẫy và ánh mắt tươi vui trong bài thơ "Chim chích bông").

2. Hệ thống biện pháp dành cho trẻ và phối hợp giáo dục

  • Kích thích tính sáng tạo và tự tin của trẻ: Khuyến khích trẻ đóng vai nhân vật, tự thể hiện cử chỉ, điệu bộ theo cảm nhận riêng thay vì rập khuôn máy móc theo cô.
  • Tăng cường thời lượng và tần suất rèn luyện: Lồng ghép hoạt động đọc thơ, kể chuyện vào các hoạt động góc, hoạt động ngoài trời và giờ đón/trả trẻ.
  • Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học: Giúp trẻ hiểu sâu nghĩa từ ngữ, hình ảnh nghệ thuật trước khi bước vào luyện đọc, kể.
  • Tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình: Hướng dẫn phụ huynh tạo môi trường đọc sách tại nhà, cùng lắng nghe và khuyến khích trẻ kể lại chuyện ở trường.

Chương 3 cũng xác lập kế hoạch tổ chức 2 đợt thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng mức độ tiến bộ về kỹ năng phát âm, ngắt nghỉ, biểu cảm giọng điệu và phối hợp cử chỉ của trẻ 4-5 tuổi tại trường.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về thực trạng rèn kỹ năng đọc, kể diễn cảm tại Trường Mầm non Điện Tiến: 100% giáo viên khẳng định hoạt động này là cần thiết, nhưng có đến 83,3% giáo viên nhận định số lượng trẻ đạt kỹ năng đọc, kể tốt ở mức dưới trung bình.
  • Chỉ ra các rào cản thực tế: 91,6% giáo viên gặp khó khăn do năng lực tiếp thu của trẻ còn hạn chế; 83,3% thừa nhận chất lượng giọng đọc/kể mẫu của giáo viên chưa cao; 75,0% gặp trở ngại do sĩ số lớp đông; 66,7% phản ánh tình trạng thiếu đồ dùng trực quan sinh động.
  • Chứng minh rằng việc chuyển đổi từ phương pháp dạy đọc thuộc lòng thụ động sang phương pháp làm mẫu nghệ thuật kết hợp đồ dùng trực quan động (rối que, tranh trượt) giúp trẻ nâng cao khả năng cảm thụ và diễn đạt ngôn ngữ.

Đóng góp về mặt phương pháp

  • Hệ thống hóa các bài tập thực hành ngữ điệu gắn liền với các tác phẩm văn học cụ thể trong chương trình mầm non (Ông mặt trời, Gà mẹ đếm con, Quả táo của ai, Chú rùa thông minh, Cô bé quàng khăn đỏ).
  • Đưa ra giải pháp kỹ thuật tự chế tạo học cụ trực quan động từ phế liệu sẵn có, giúp tiết kiệm kinh phí cho các trường mầm non khu vực nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực trạng còn hẹp, mẫu khảo sát phiếu hỏi tập trung ở quy mô 12 giáo viên tại địa bàn xã Điện Tiến (thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), chưa bao quát nhiều loại hình trường mầm non khác nhau (tư thục, trường đô thị).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô thực nghiệm sư phạm trên nhiều nhóm lớp và địa bàn khác nhau; nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm đa phương tiện tương tác vào hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non, Sư phạm Tiểu học - Mầm non: Tham khảo cấu trúc khóa luận tốt nghiệp, hệ thống lý luận về ngữ âm - tiếp nhận văn học trẻ em và phương pháp thiết kế bài tập thực hành.
  • Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp (đặc biệt là khối 4-5 tuổi): Vận dụng các thủ thuật luyện giọng, kỹ thuật ngắt nghỉ, nhập vai nhân vật và cách thức tự làm đồ dùng trực quan động phục vụ hoạt động làm quen văn học.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn mầm non: Sử dụng bộ tiêu chí đánh giá kỹ năng đọc, kể diễn cảm của trẻ để xây dựng tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng giảng dạy văn học trong nhà trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu thực tiễn nào?

Tác giả đã sử dụng 4 phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát sư phạm (dự giờ tiết thơ và truyện tại lớp Nhỡ 1, Nhỡ 2), điều tra bằng phiếu Anket (12 giáo viên), phỏng vấn sâu giáo viên và tổ chức thực nghiệm sư phạm.

2. Tỷ lệ đánh giá của giáo viên về kỹ năng đọc, kể diễn cảm của trẻ 4-5 tuổi tại Trường Mầm non Điện Tiến ra sao?

Theo Bảng 6 của khóa luận, 83,3% giáo viên (10/12 người) đánh giá số lượng trẻ có khả năng đọc, kể diễn cảm tốt ở mức dưới trung bình; 16,7% (2/12 người) đánh giá ở mức trung bình - khá; và 0% giáo viên đánh giá ở mức tốt.

3. Giáo viên tại địa bàn nghiên cứu gặp những khó khăn lớn nhất nào khi rèn kỹ năng cho trẻ?

Dữ liệu khảo sát (Bảng 5) chỉ ra 3 khó khăn hàng đầu gồm: khả năng tiếp thu của trẻ còn hạn chế (91,6%), chất lượng giọng đọc/kể mẫu của giáo viên chưa cao (83,3%) và sĩ số trẻ trong lớp đông (75,0%).

4. Tác giả đã minh họa biện pháp nâng cao chất lượng đọc mẫu qua tác phẩm văn học nào?

Tác giả minh họa qua bài thơ "Ông mặt trời" của Ngô Thị Bích Hiền (hướng dẫn giọng vui tươi, nhí nhảnh kết hợp cử chỉ vẫy tay, ngẩng đầu cười), bài thơ "Gà mẹ đếm con" (giọng hồn nhiên, tinh nghịch) và truyện "Quả táo của ai" (phân biệt ngữ điệu cao, gay gắt của thỏ, nhím, quạ với ngữ điệu trầm, ôn hòa của gấu).

5. Đồ dùng trực quan nào được tác giả đề xuất tự làm để thay thế tranh tĩnh truyền thống?

Tác giả đề xuất làm các loại rối dẹt, rối tay, rối que, rối nước và tranh truyện động có rãnh cắt di chuyển nhân vật từ bìa lịch cũ, mút xốp, đề can và vải vụn (minh họa cụ thể qua truyện "Chú rùa thông minh").


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phan Thị Thảo đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về hoạt động đọc, kể diễn cảm cho trẻ 4-5 tuổi, đồng thời phản ánh chân thực thực trạng giảng dạy tại Trường Mầm non Điện Tiến (Quảng Nam). Các số liệu điều tra cho thấy sự cần thiết phải đổi mới phương pháp khi phần lớn trẻ chỉ dừng lại ở mức độ học thuộc lòng máy móc. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính sư phạm thiết thực, kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao kỹ năng biểu cảm của giáo viên, cải tiến đồ dùng trực quan động và phát huy tính chủ động sáng tạo của trẻ trong hoạt động làm quen tác phẩm văn học.