Chương 1: Tổng quan tài liệu Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả và thảo luận IL. NOI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN TAI LIEU 1. Tình hình sản xuất cây cà phê trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sẵn xuất cây cà phê trên thế giới Cà phê là loại thức uống rất được ưa chuộng trên thế giới.
Cà phê gay hung phấn kích thích hệ thần kinh trung ương, làm cho tỉnh táo, kích thích khả năng làm việc, đặc biệt làm việc bằng trí óc, tăng cường hoạt động cơ. Khi mỏi mệt uống một ly cà phê sẽ hưng phấn tỉnh thần, uống sau khi ăn sẽ trợ giúp cho tiêu hoá, mùa hè nóng bức uống một ly cà phê lạnh cũng có tác dụng giải khát, phòng cảm nắng. Cà phê còn làm giảm nguy cơ mắc bệnh hen, chữa được dị ứng, giúp giảm đau, bảo vệ khỏi các bệnh về gan, làm tăng sức mạnh của cơ bắp chống lại bệnh tiểu đường type II. Ngoài ra cà phê còn chứa: đường saccaroza 5.234, các loại protein không hòa tan 5.04%, các sinh tố nhóm B, PP là các chất đinh dưỡng cần thiết cho cơn người.
Hơn nữa khi thưởng thức cà phê ta thấy có mùi thơm rất hấp dẫn, của gần 670 hợp chất thơm phức tạp tạo nên. Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích trên I0 triệu hecta và sản lượng hàng năm biến động trên dưới 6 triệu tắn. Năng suất bình quân chưa vượt quá 6 tạ nhân/ha. Trong đó ở châu Phi có 28 nước năng suất bình quân không vượt quá 4 tạ nhân/ha.
Nam Mỹ đạt dưới 6 ta nhân/ha. Bốn nước có diện tích cà phê lớn nhất đó là: Brazil trên 3 triệu hecta chiếm 25% sản lượng cà phê thế giới, Coote D°Lvoire (Châu Phi), Indonesia (Châu Á) mỗi nước khoảng I triệu hecta và Côlômbia có gần I triệu hecta với sản lượng hàng năm đạt trên dưới 700 ngàn tấn. Do áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật mới như giống mới và mật độ trồng dày nên đã có hàng chục nước đưa năng suất bình quân đạt trên 1 tắn/ha. Điển hình có Costa Rica ở Trung Mỹ với ện tích cà phê chè là 85.000 ha nhưng đã đạt năng suất bình quân trên 1.
Cà phê chè hiện nay vẫn chiếm 70% sản lượng của thế giới. Diện tích cà phê chè được trồng tập trung chủ yếu ở Trung và Nam Mỹ, một số nước ở Đông Phi như: Kenya, Cameroon, Ethiopie, Tanzania và một phần ở châu Á như: Indonesia, An Dé, Philippines. Brazil là quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới va Brazil cũng là nước tiêu thụ cà phê thứ 2 thế giới sau Mỹ. Với 2,3 triệu hecta chiếm gần 40% tổng sản lượng thế giới, phần lớn nằm ở Minas Gerais, Sao Paulo và Parana, nơi có khí hậu và nhiệt độ lý tưởng cho việc sản xuất cà phê.
Phòng Thương mại Nông nghiệp Sao Paule (ATO) dự báo tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Brazil mùa vụ 2014/15 khoảng 32,38 triệu bao, giảm 1 triệu bao so với mùa vụ trước. Theo báo cáo thị trường cà phê của Tổ chức cà phê quốc té (CO) thang 3/2014, tổng tiêu thụ cà phê thế giới năm 2013 ước đạt 145,8 triệu bao, tăng 3,8 triệu bao so với năm 2012. Brazil đã xuất khẩu 23,4 triệu bao cà phê trong hon 8 tháng đầu năm 2015 - doanh thu tăng 1% đạt 4,08 tỷ USD, theo báo cáo của Hiệp hội xuất khẩu cà phê Brazil (CeCafe). Mỹ là nước nhập khẩu cà phê Brazil lớn nhất với 22% tổng sản lượng nhập khẩu, tiếp theo là Đức với 199% Ý là 8% và Nhật là 7%.
Nước sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 thế giới là Việt Nam. Ngành cà phê Việt Nam tăng trưởng ở mức cao trong vòng 3 năm qua. Năm 2014, diện tích trằng cà phê là 653 ngàn hecta, tăng 2,7% so với năm 2013. Sản lượng mùa vụ năm 2013/14 đạt gần 1,7 triệu tấn, chủ yếu là cà phê robusta.
Các tỉnh trồng cà phê nhiều nhất là Đắk Lắk, Lâm Đồng, gia lai và Đắk Nông. Cà phê Việt Nam đa phần được xuất khẩu. Colombia là nước sản xuất cà phê đứng thứ 3 thế giới sau Brazil và Việt Nam, nhưng là nhà sản xuất cà phê arabica lớn thứ hai thế giới sau Brazil. Sản lượng cà phê Indonesia tháng 9/2014 dự báo ở mức II,2 triệu bao, cao hơn so với mức 10,87 triệu bao ước tính năm 2012-2013 do các đền điền tai Java, Sumatra va phia Déng Indonesia bat dau cho thu hoạch.
Indonesia la nước sản xuất cà phê robusta lớn thứ 2 thể giới sau Việt Nam. Trong số các quốc gia xuất khẩu cà phê, Indonesia là nước tiêu thụ lớn thứ hai sau Brazin. Ngoài các quốc gia trên còn có các nước được xếp thứ tự trong 10 quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu thế giới là Ethiopia, Án Độ, Honduras, Mexico, Uganda, Guatemala. Dién tich cà phê không ngừng tăng trong những năm gần đây đòi hỏi phải có các kế hoạch để phòng chống dich hại, để cà phê có năng suất cao, chất lượng tốt.
Tình hình sẵn xuất cây cà phê trên tại Việt Nam Cây cà phê được đưa vào Việt Nam từ những năm 1870 do các thầy tu mang về trồng tại nhà thd tai Ha Nam, Quang Binh, Kom Tum. Năm 1888, đồn điền cà phê đầu tiên được người Pháp khởi sự nằm ở Kẻ Sở, Bắc Kỳ với giống cà phê chè được trồng ở vùng ven sông. Năm 1925, lần đầu tiên được trồng ở Tây Nguyên. Đến năm 1945 diện tích cà phê trên cả nước đạt trên 10.
Khi mới bắt đầu trồng quy mô lớn, cây cà phê chỉ đạt năng suất là 400- 600kg/ha. Nhờ sự hễ trợ vốn từ quốc tế, cây cà phê dần được chú trọng, đến năm 1980 diện tích đạt 23. Bản kế hoạch ban đầu được xây dựng năm 1980 đặt mục tiêu cho ngành cà phê Việt Nam có khoảng 180. Sau đó, bản kế hoạch này đã nhiều lần sửa đổi.
Các con số cao nhất dùng lại ở mức 350. Hiện nay sản lượng và xuất khẩu cà phê Việt Nam luôn tăng trưởng đều. Trong năm 2014 diện tích trồng cà phê dat 653.000 ha, Hiện nay nước ta trồng chủ yếu 3 chủng cà phê chính là cà phê Arabica (cà phê chè), cà phê Robusa (cà phê vối) và cà phê excelsa or Liberia (cà phê mí0). "Trong những năm gần đây, cà phê là một mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu quan trọng của Việt Nam có kim ngạch hàng năm từ 400 đến 600 triệu Đôla Mỹ, chỉ đứng sau gạo.
Không chỉ đem về nhiều ngoại tệ cho đất nước, cây cà phê đang ngày càng giữ vị trí quan trợng trong nền kinh tế của nước ta. Hiện nay cà phê Việt Nam đã xuất hiện trên khắp các châu lục từ Bắc Mỹ, Tây Âu, Đông Âu đến Úc, Nam Á, Bắc Á. Chất lượng cà phê ở Việt Nam cũng được thị trường quốc tế thừa nhận và ưa chuộng. Đảng và Nhà nước ta luôn coi cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nông nghiệp nói riêng và của nước ta nói chung lên đã dành cho cây cà phê sự quan tâm đặc biệt.
'Từ sau giải phóng, diện tích cà phê liên tục tăng từ vài chục nghìn hecta nay đã lên tới gần 300 nghìn hecta cho năng suất cao tạo chỗ vững chắc cho xuất khẩu cà phê tăng trưởng. Tiềm năng của cây cà phê Việt Nam rất lớn và phần lớn còn đang chờ sự khai thác có hiệu quả cao, do vậy trong thời gian tới nghành cà phê cần có những giải pháp cụ thể để phát huy tối đa tiềm năng này.1 : Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam qua các thời kì Năm Điện tích (ha) Sản lượng (tấn) 1995 17. “xxx Ba Ria Vang Tau— 2%. 2% 2% ~ _ Quang Tri Bình Phước —_ 2% Đồng Nai Í 3% Gia tai a ke Wi 12% Dak Nong.
Lâm Đồng 20% 23% iéu dO 1.1: Phân bồ khu vực trồng cà phê của Việt Nam năm 2015 (Nguôn: Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT các tỉnh, doanh nghiệp xuất khẩu) Theo biểu để phân bố khu vực trồng cà phê của Việt Nam thì Gia Lai đứng thứ tư sau Dak Lak, Lâm Đẳng, Đắc Nông về diện tích trồng cà phê. Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam, giai đoạn 2006 — 2015 được thé hiện như sau: 2100 800 1900 750 _ 1700 700 9 1500 650 s££ =5= 1300 1100 so © 900 550 700 < 500 500 450 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 (est) (f) — Sản lượng =— Diện tích trồng cà phê Biểu đồ 1.2: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam, giai đoạn 2006 — 2015 Bảng 1.2: Diện tích trằng cà phê của Việt Nam theo khu vực Tinh 2013 2014 2015 Mục tiêu tới năm 2020 Daklak 207.000 Bình Phước 14.000 Ba Ria Ving 9.000 Tau Quang Tri 5. Tình hình sẵn xuất cà phê ở nh Gia lai Hiện nay Gia Lai có 93.970 ha cà phê (rong đó có cà phê kinh doanh 87.915 ha, cà phê trong giai đoạn kiến thiết cơ bản 2.602 ha và cà phê trồng mới + tái canh 3. Theo thống kê mới của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì Gia Lai có diện tích trồng cà phê lớn thứ 4 trong cả nước sau Đắk Lắk, Lâm Đằng, Đắk Nông.
Cùng với việc tăng nhanh về diện tích. việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như: chợn giống, bón phân, tưới nước, tạo tán,., đã làm cho năng suất và sản lượng cà phê tăng mạnh. Năm 2017, Gia Lai đạt sản lượng hơn 261.000 tấn chiếm khoảng 15% sản lượng cà phê cả nước. Là tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa, sản phẩm tổng trọt và chăn nuôi khá lớn về sản lượng, đa dạng về chủng loại, với nguồn nguyên liệu đổi dào và rất tốt cho ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Đặc biệt Gia Lai được khi hậu rất ưu đãi, không có bão, không bị sương muối, cùng với lượng đất đỏ bazan mầu mỡ và đổi dào, rất thích hợp cho cây cà phê phát triển. Cây cà phê đã tạo hiệu quả kinh tế, xã hội rất to lớn cho người dân Gia Lai. Cà phê là mặt hàng chủ lực chiếm giá trị kim nghạch xuất khẩu lớn trên địa bàn Gia Lai, những năm 90 của thế kỷ trước, năng suất bình quân lha cà phê kinh doanh đạt rất thấp nhưng mấy năm gần đây cùng với việc tăng nhanh về diện tích, áp dụng tiến bệ khoa học kỹ thuật đã làm tăng năng suất cà phê rõ rệt đạt bình quân 4 — 6 tắn/ha. Tuy nhiên gần đây, phần lớn diện tích cà phê do nông dân tự chọn giống để trồng, nên bộc lộ nhiều nhược điểm có xu hướng bị thoái hóa giếng.