phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn này gồm 3 chƣơng, có bố cục nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có 5 vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa tỉnh Bình Định. - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Định. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Theo tác giả đƣợc biết hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, công trình nghiên cứu về QLNN đối với các doanh nghiệp FDI nhƣ: - Bài viết “Một số vấn đề về quản lý nhà nước trong FDI tại tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Thị Phƣơng Thảo, Nguyễn Ngọc Hoa, Đại học Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 103, đăng ngày 26-3-2013; - Bài viết “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI ở Hà Nội” của TS.
Phan Trung Chinh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý nhà nước số 141, đăng tháng 10- 2007; - Nguyễn Ngọc Anh (2014), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI vào vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”, Luận án Tiến sĩ kinh tế; - Nguyễn Quang Anh và Trần Công Huy (2016), “Nhìn lại thu hút đầu tư nước ngoài vùng duyên hải miền trung: thực trạng và một số khuyến nghị giai đoạn 2016 – 2020”, Website Trung tâm Xúc tiến đầu tƣ miền Trung (IPCC); - Giáo sƣ, Tiến sĩ Nguyễn Mại (2012), “Giải pháp thúc đẩy và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào việt Nam”, kỷ yếu hội thảo khoa học diễn ra tại Hà Nội, tháng 3/2012, đã đƣa ra các giải pháp thúc đẩy và nâng cao chất lƣợng dòng vốn FDI và thế nào để quản lý, sử dụng một cách hiệu quả nguồn vốn này nhằm góp phần thực hiện chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2020. - Nguyễn Thanh Hải (2012), “Quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Luận văn 6 Thạc sĩ; - Nguyễn Thị Hải Yến (2012), “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Phú Thọ”, Luận văn Thạc sĩ; - Vũ Thị Thu Hằng(2010), “Một số giải pháp tăng cường quản lý doanh nghiệp FDI tại Việt Nam”, Tạp chí quản lý Nhà nƣớc số 176/2010; - Nguyễn Thị Giang (2015), “Quản lý nhà nước đối với các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, trong đó chú trọng các giải pháp tăng cƣờng QLNN từ định hƣớng thu hút đến quy hoạch, chính sách, bộ máy quản lý, giám sát, kiểm tra; - Nguyễn Thị Hồng Trâm (2018), “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam”, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới số 12(272)2018; - Phạm Thị Ngoan (2019), “Mở cửa thu hút FDI và vấn đề môi trường”, Tạp chí Công thƣơng kỳ 2 tháng 12/2019; - Lâm Thùy Dƣơng (2021), “Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về FDI ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 11, tháng 4/2021; - Đỗ Thị Thu (2021), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 6/2021. 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Có nhiều cách hiểu khác nhau về FDI - Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), FDI là hoạt động đầu tƣ nhằm đạt lợi ích lâu dài của nhà đầu tƣ tại một doanh nghiệp ở nƣớc khác với nƣớc của nhà đầu tƣ, trong đó nhà đầu tƣ phải có vai trò quyết định trong quản lý doanh nghiệp. - Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), FDI bao gồm các hoạt động kinh tế của các cá nhân, kể cả việc cho vay dài hạn hoặc sử dụng nguồn lợi nhuận tại nƣớc sở tại nhằm mục đích tạo dựng quan hệ kinh tế lâu dài và mang lại khả năng gây ảnh hƣởng thực sự về quản lý. - Theo Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO), FDI xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
- Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam (1996) đã nêu: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này” [3, tr. - Theo Luật Đầu tƣ năm 2005: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài (ĐTNN) đầu tƣ vào Việt Nam vốn bằng tiền hay bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tƣ [14,tr. - Định nghĩa chung nhất cho rằng FDI là một loại hình di chuyển vốn 8 giữa các quốc gia trong đó ngƣời sở hữu vốn đồng thời là ngƣời trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tƣ. Nói cách khác, trong đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ sử dụng vốn, tài sản, kinh nghiệm, uy tín và nhãn hiệu sản phẩm của mình để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nƣớc sở tại nhằm thu lợi nhuận và để đạt đƣợc những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI có các đặc điểm chủ yếu sau đây: - Hoạt động FDI không chỉ đƣa vốn vào nƣớc tiếp nhận đầu tƣ mà còn có cả công nghệ, kỹ thuật, bí quyết kinh doanh, sản xuất, năng lực marketing, trình độ quản lý.Hình thức đầu tƣ này mang tính hoàn chỉnh bởi khi vốn đƣa vào đầu tƣ thì hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành và sản phẩm đƣợc tiêu thụ trên thị trƣờng nƣớc chủ nhà hoặc xuất khẩu. Do vậy, đầu tƣ kỹ thuật để nâng cao chất lƣợng sản phẩm là một trong những nhân tố làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trƣờng. Đây là đặc điểm để phân biệt với các hình thức đầu tƣ khác, đặc biệt là với hình thức Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) (hình thức này chỉ cung cấp vốn đầu tƣ cho nƣớc sở tại mà không kèm theo kỹ thuật và công nghệ). - Quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài phụ thuộc vào vốn góp.
Tỷ lệ góp vốn của bên nƣớc ngoài càng cao thì quyền quảnlý, ra quyết định càng lớn. Đặc điểm này giúp ta phân định đƣợc các hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Nếu nhà đầu tƣ nƣớc ngoài góp 100% vốn thì doanh nghiệp đó hoàn toàn do chủ đầu tƣ nƣớc ngoài điều hành. - Quyền lợi của các nhà ĐTNN (gắn chặt với dự án đầu tƣ: Kết quả hoạt động sản xuất kinh của doanh nghiệp quyết định mức lợi nhuận của nhà đầu tƣ.
Sau khi trừ đi thuế lợi tức và các khoản đóng góp cho nƣớc chủ nhà, 9 nhà ĐTNN nhận đƣợc phần lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định. - Chủ thể của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài thƣờng là các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia (chiếm 90% nguồn vốn FDI đang vận động trên thế giới ). Thông thƣờng các chủ đầu tƣ này trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp (vì họ có mức vốn góp cao) và đƣa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. - Nguồn vốn FDI đƣợc sử dụng theo mục đích của chủ thể ĐTNN trong khuôn khổ luật Đầu tƣ nƣớc ngoài của nƣớc sở tại.
Nƣớc tiếp nhận đầu tƣ chỉ có thể định hƣớng một cách gián tiếp việc sử dụng vốn đó vào những mục đích mong muốn thông qua các công cụ nhƣ: Thuế, giá thuê đất, các quy định để khuyến khích hay hạn chế đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào một lĩnh vực, một ngành nào đó. - Mặc dù FDI vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ song có phần ít lệ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các bên tham gia hơn so với ODA. - Việc tiếp nhận FDI không gây nên tình trạng nợ nƣớc ngoài cho nƣớc chủ nhà, bởi nhà ĐTNN chịu trách nhiệm trực tiếp trƣớc hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Trong khi đó, hoạt động ODA và ODF (Nguồn tài trợ phát triển chính thức) thƣờng dẫn đến tình trạng nợ nƣớc ngoài do hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Doanh nghiệp FDI hiểu theo định nghĩa tiếng Anh là doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp từ nƣớc ngoài (Foreign Direct Investment). Theo quy định tại khoản 13, Điều 3 của Luật Đầu tƣ 2014: “Nhà đầu tƣ tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh gồm nhà đầu tƣ trong nƣớc, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ” [13,tr.
Và theo khoản 14, Điều 3 của Luật Đầu tƣ 2014: “Nhà đầu tƣ nƣớc 1 ngoài là cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nƣớc ngoài thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh tại Việt Nam” [14,tr. Nhƣ vậy, theo quy định này, đối chiếu với khái niệm doanh nghiệp FDI theo định nghĩa tiếng Anh, pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận hoạt động của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trong nền kinh tế nƣớc ta ở một phạm vi rộng hơn (tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài) so với doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Do đó, trong phạm vi này, ta có thể hiểu một cách cơ bản, doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp của nƣớc ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nƣớc ngoài góp là bao nhiêu. Căn cứ Luật Doanh nghiệp 2014, các nhà đầu tƣ có thể lựa chọn một trong những loại hình doanh nghiệp sau để thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: Công ty TNHH Một thành viên, Công ty TNHH Hai thành viên trở lên, Công ty Cổ phần, Công ty hợp danh.