CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC VẬN DUNG PHUONG PHAP BAN TAY NAN BOT VAO DAY HQC CHU DE TỰ NHIÊN, MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 3 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Phượng pháp Phương pháp là cách thức làm việc của chủ thẻ, cách thức này tùy thuộc vào nội dung vì “phương pháp chính là sự vận động bên trong của nội dung”.
Phượng pháp bàn tay nặn bột Bàn tay nặn bột là mô hình giáo dục tương dối mới trên thế giới, có tên tiếng. Anh là “Hands On”, tiếng Pháp là “La main à la pâte”, đều có nghĩa là “bắt tay 'bắt tay vào làm thí nghiệm”, “bắt tay vào tìm tòi nghiên cứu”. Phương pháp bàn tay nặn bột được hiểu là phương pháp tạo cho học sinh tích cực, chủ động trong học tập. Học sinh phải tự làm các thí nghiệm, thực nghiệm để tiếp thu các kiến thức khoa học.
Các em tiếp cận tri thức khoa học như một quá trình nghiên cứu của chính bản thân. (Theo giáo dục. Phương pháp bàn tay nặn bột 1. Mục tiêu của phương pháp bàn tay nặn bột Mục tiêu của phương pháp bàn tay nặn bột là tạo ra tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh.
Ngoài việc chú trọng đến kiến thức, phương pháp này còn chú ý đến rèn luyện kĩ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viét cho HS. Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp bàn tay nặn bột ~ Thứ nhất, học sinh quan sát một vật hoặc một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi, có thể cảm nhận được và các em sẽ thực hành trên những cái đó. ~ Thứ hai, trong quá trình học tập tìm hiểu, học sinh lập luận và đưa ra các lý lẽ, thảo luận về các lến và các két qua dé xuất, xây dựng các kiến thức, hiểu | biết cho mình mà nếu chỉ có một hoạt động chỉ dựa trên sách vở, thao tác riêng lẻ là không đủ tạo nên. - Thứ ba, các hoạt động GV đề ra cho hoc sinh được tổ chức theo các giờ học nhằm cho các em có sự tiến bộ dần dần trong học tập.
Các hoạt động này gắn với chương trình và giành phần lớn quyền ty chu cho HS. - Thứ tư, tối lu 2 giờ một tuần dành cho một đề tài và có thể kéo đài hoạt động trong nhiều tuần. Tính liên tục của các hoạt động và những phương pháp sư phạm được đảm bảo trong suốt quá trình học tậ) trường. ~ Thứ năm, mỗi học sinh có một quyền vở thí nghiệm và học sinh trình bày trong đó theo ngôn ngữ của riêng mình.
~ Thứ sáu, mục đích hàng đầu đó là giúp học sinh tiếp cận một cách dần dần với các khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học, kĩ thuật.kèm theo một sự vững vàng. trong diễn đạt nói và viết. ~ Thứ bảy, gia đình, khu phố ủng hộ cho các hoạt động, khuyến khích thực hiện các công việc ở lớp. ~ Thứ tám, ở địa phương, các đối tác khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, viện nghiên cứu,.) giúp các hoạt động nghiên cứu theo khả năng của mình.
~ Thứ chín, các Trường Dại học sư phạm, Cao đẳng sư phạm giúp các giáo viên có kinh nghiệ m và phương pháp giảng day. ~ Thứ mười, giáo viên có thể tìm thấy trên Internet những bài học về những. đề tài, những gợi ý cho các hoạt động ở lớp, những câu trả lời cho các câu hỏi. Giáo viên cũng c6 thể tham gia thảo luận trao đổi với các đồng nghiệp, với các giảng viên và các nhà khoa học.
Các bước tiễn hành dạy học theo phương pháp bàn tay nặn bột Dạy học theo PP BTNB được tiến hành gồm 6 bước sau : Bước L: Giáo viên đưa ra tình huống xuất phát có vấn dể cần tìm hiểu. - GV dua ra tinh huồng xuất phát phải bám sát vào mục tiêu chương trình đề ra (theo chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học). ~ GV đưa ra vấn đề tìm hiểu cần phải có tính hiệu quả, phù hợp với các kế hoạch chung của các khối lớp do hội đồng đề ra, đảm bảo về vật chất và các nguồn tư liệu của địa phương và tính phủ hợp của việc học đối với mối quan tâm riêng của HS. Bước 2: Học sinh bộc lộ quan điểm ban dầu.
~ Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phát biêu các câu hỏi, GV giúp sửa chữa, phát biểu lại các câu hoi để đảm bảo đúng nghĩa, tập trung vào lĩnh vực khoa học và tạo điều kiện cho việc nâng cao khả năng diễn đạt nói của HS. ~ Sự chọn lựa có định hướng, có căn cứ của GV trong việc khai thác các câu hỏi hiệu quả (nghĩa là thích hợp với một tiến trình xây dựng, có tính đến các dụng cụ thực nghiệm và tư liệu sẵn có) có thể dẫn đến việc học một nội dung trong chương trình. - Làm bộc lộ các quan niệm ban đầu của HS, đối chiếu chúng với nhau nếu có sự khác biệt để tạo điều kiện cho lớp lĩnh hội vấn đề đặt ra. Bước 3: Học sinh đặt câu hỏi và đề xuất phương án thí nghiệm ~ Các mức khác nhau tùy thuộc hoạt động, GV cho HS hoạt động từ mức độ cá nhân, mức độ cặp đôi đến mức độ nhóm lớn.
~ Phát biểu bằng lời các giả thuyết, viết các đoạn mô tả các giả thuyết và tiến trình bằng lời và hình vẽ, sơ đồ. ~ Trình bày các giả thuyết và các qui trình đề nghị bằng lời nói trong lớp. Bước 4: Học sinh tiến hành thực nghiệm, so sánh kết quả sau thực nghiệm với dự đoán - hoạt động theo nhóm, trao đổi ý kiến để giải quyết vấn đề. ~ Các giai đoạn tranh luận trong nhóm: Các cách thức tiến hành thí nghiệm; ~ Kiểm soát sự thay đổi của các thông số; ~ Mô tả thí nghiệm bằng các sơ đồ, các hình vẽ, các đoạn văn mô tả; - HS chỉ rõ các điều kiện thí nghiệm, có thể lặp lại thí nghiệm khi HS làm sai; ~ Việc quản lí oy ghi chép cá nhân của HS; Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
~ So sánh và liên hệ các kết quả thu được trong các nhóm khác nhau; ~ Đối chiếu với kiến thức đã được thiết lập trong sách, dạng khác của tải điều quan trọng là phải đảm bảo mức độ kiến thức thích hợp với trình độ HS; - Tìm kiếm các nguyên nhân của những kết quả khác biệt nếu có, phân tích các thí nghiệm đã tiến hành va dé xuất các thí nghiệm bổ sung; - Trình bày các kiến thức mới lĩnh hội được cuối cum bai học bằng lời văn viết của HS với sự giúp đỡ của GV; Bước 6: Vận dụng vào các vấn để có liên quan - Chế tạo một đồ vật; ~ Giải thích một hiện tượng; - Dự đoán một hành vi, hay diễn tiến hiện tượng, của một sinh vat hay vat thé; - Đặt ra các câu hỏi mới: Tùy thuộc vảo tính chất của các câu hỏi mới và tùy thuộc vào những điều kiện bó buộc về vật chất và thời gian mà các câu hỏi này có thể dẫn đến một quá trình tìm tòi nghiên cứu mới hay không; Giai đoạn này rất quan trọng vì nó cho phép HS nhận thấy rõ sự tiến bộ của mình, tạo ra hứng thú học tập và bộc lộ khả năng của HS; 1. Mỗi quan hệ giữa phương pháp dạy học ban tay nặn bột với các phương pháp dạy học khác (1/Tr 53) Trong quá trình đổi mới các PPDH ở các trường Tiểu học hiện nay, ta thấy xuất hiện nhiều PP và hình thức dạy học mới như: Dạy học nêu và giải quyết vần đề, day hoc theo li thuyét kién tao, đạy học động não, dạy học dự án, học theo góc.với nhiều 4 ĩ thuật tổ chức hoạt động dạy học tích cực cho học sinh. Các PPDH có những điểm khác nhau nhưng nhìn chung thì chúng có chiến lược dạy học, PPDH đều được xây dựng trên tỉnh thần dạy học giải quyết vấn đề thông qua việc tổ chức cho HS hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức. Việc học tập của HS,là một hoạt động, thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức thái độ của các em, để hoàn thành nhiệm vụ học tập các em phải có tỉnh thần trách nhiệm cao, lòng ham thích học tập và được sự tác động giáo dục của giáo viên, nhà trường, gia đình và xã hội.
So sánh tiên trình dạy học của PP BTNB với các PPDH tích cực khác ta có thể nhận thấy điểm tương đồng như déu nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực, tự lực giải quyết vấn đề. Về tiến trình dạy học theo các bước chủ yếu sau: chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh; học sinh tự chủ giải quyết vấn đề; học sinh báo cáo, hợp thức hóa kiến thức và vận dụng kiến thức mới. Điểm khác biệt của PPDH BTNB so với các PP khác là tình huống xuất ph câu hỏi nêu vấn đề là những sự vật, hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời ng, đễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên cái đó. Đặc biệt, PP BTNB chi trong giúp các em bộc lộ quan điểm ban đầu để tạo ra các mâu thuẫn nhận thức làm cơ sở đề xuất các câu hỏi giả thiết.
Hoạt động tìm tòi, nghiên cứu trong PP BTNB rit đa dạng, trong đó phương án thí nghiệm được tiến hành bởi để xuất của học sinh với những dụng cụ đơn giản, đễ kiếm. Đồng thời, học sinh học buộc mỗi li phải có một quyền vở thí nghiệm do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính mình. Từ đó, các em hợp thức hóa kiến thức và vận dụng vào thực tiễn. Ý nghĩa của vì : vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột vào dạy học chủ đề Tự nhiên, môn Tự nhiên và Xã hội 3.
Học sinh lớp 3 là học sinh giữa cấp, các em có những chuyển biến về mặt tâm sinh lý, nên việc áp dụng các PP và hình thức dạy học sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các em. Vận dụng PP BTNB vào dạy chủ đề TN, môn TN & XH lớp 3 có một ý nghĩa nhất định: ~ Khi HS đahg giai đoạn tìm hiểu về các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản| về khoa học, tập trung phát triển khả năng nhận thức của HS, giúp các em tìm ra lời giải đáp cho thắc mắc bằng cách tự đặt mình vào tình : a-0Ah : huồng thực tế từ đó khám phá ra bản chat van dé.