Đặt vấn đề nghiên cứu “Sự gia tăng nhiệt độ không khí, đại dương, sự tan chảy băng ở hai đầu cực, sự gia tăng mực nước biển… là những bằng chứng thuyết phục về biến đổi khí hậu (viết tắt là BĐKH). Không kể đến các tác nhân từ tự nhiên thì nguyên nhân chính gây ra 2 hiện tượng BĐKH là sự gia tăng của nồng độ khí nhà kính đó là CO2 (đioxit cacbonic), CH4 (mêtan), N2O (oxit nitơ)…”(Úy, 2008). “Sự gia tăng phát thải khí nhà kính toàn cầu có liên quan đến các hoạt động của con người và tăng trưởng dân số, chủ yếu là do phát triển công nghiệp và việc sử dụng rộng rãi phương tiện sử dụng nhiên liệu đốt cháy” (Benhelal, Zahedi, Shamsaei, & Bahadori, 2013). Điều này có thể gây ra những hậu quả đáng kể đối với hiện tượng nóng lên toàn cầu nếu không được kiểm soát (Tong & Ebi, 2019).
Không thể phủ nhận ảnh hưởng của BĐKH đối với mỗi người dân Việt Nam. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như nắng nóng, giông bão, mưa đá xuất hiện này một gia tăng là do BĐKH. Điều này tác động trực tiếp lên cuộc sống và hoạt động nuôi trồng, sản xuất của nhiều gia đình và người dân, đồng thời đặt ra những thách thức đáng kể đối với nông nghiệp, môi trường, tài nguyên nước, kinh tế và xã hội (Phan & Ngô, 2013). Nghiên cứu về ngành xây dựng chứng minh rằng ngành này là nguồn phát thải một tỷ lệ lớn khí nhà kính trên toàn cầu, chịu rủi ro về BĐKH trong tương lai (Hurlimann, Warren-Myers, & Browne, 2019).
Việc phát thải CO2, ô nhiễm nước và đất … là những tác động của ngành xây dựng đến môi trường gây BĐKH, cần phải có nhận thức về vấn đề này, không được chủ quan trước những tác hại này (Elhegazy et al. “Xi măng và bê tông là một trong những vật liệu chính của ngành xây dựng. Đi cùng với sự phát triển của ngành xây dựng là việc sản xuất không ngừng bê tông và xi măng. Sản xuất bê tông và xi măng sẽ tạo ra lượng lớn khí thải nhà kính tác động môi trường và làm ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nước, dẫn đến tình hình BĐKH càng trở nên căng thẳng hơn.
Xuất phát từ nhu cầu phát triển của ngành xây dựng điều này thúc đẩy sự phát triển của các công ty sản xuất bê tông thương phẩm ở địa phương, cũng như sự xuất hiện thêm nhiều doanh nghiệp trên thị trường. Một số doanh nghiệp sản xuất bê tông thương phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang: Công ty Bê tông Ticco, Bê tông Thanh Duy, Công ty TNHH Hữu Biên,… Hiện nay, bê tông thương phẩm được sử dụng ở một số hạng mục của các công trình trọng điểm của tỉnh. Do ảnh hưởng của biến đổi 3 khí hậu làm xuất hiện mùa khô năm 2024 trên Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và địa bàn tỉnh Tiền Giang là tỉnh đầu tiên công bố hạn mặn, thiếu nước khẩn cấp. Do đó, nó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nông nghiệp.
(Van Thuong, Van Phu, & Hung) Do vậy, đề tài này tập trung vào việc xác định các yếu tố gây BĐKH của việc sản xuất và sử dụng (viết tắt là SX&SD) bê tông thương phẩm (viết tắt là BTTP) khảo sát tại các dự án tỉnh Tiền Giang để đưa ra một số kết quả phân tích, nhận định góp phần nâng cao, cải thiện quy trình SX&SD BTTP, giảm tác động đến BĐKH.3 Mục tiêu đề tài Mục tiêu chung của đề tài là khảo sát, xác định các yếu tố (viết tắt là YT) ảnh hưởng đến BĐKH trong SX&SD BTTP và phân tích, xếp hạng các YT nhằm đóng góp phần nào trong công cuộc hạn chế BĐKH của tỉnh Tiền Giang và Quốc Gia. Để đạt mục tiêu trên, các mục tiêu cụ thể bao gồm: - Tổng quan các nguyên nhân gây BĐKH và từ đó xác định các yếu tố trong quá trình SX&SD BTTP có liên quan đến các nguyên nhân đó dựa trên việc tham khảo các tài liệu, các bài nghiên cứu và tiến hành phân tích cụ thể. - Lập bảng phân tích và đưa ra nhận xét tổng thể, xếp hạng các YT theo kết quả khảo sát thu thập nhằm đánh giá quan điểm về tầm ảnh hưởng của các YT đến BĐKH của các thành phần tham gia dự án. - Đưa ra kết luận để góp phần cung cấp thêm thông tin, giúp các chủ thể tham gia dự án đưa ra các biện pháp kỹ thuật nhằm hạn chế các tác động đến sự BĐKH khi thực hiện hoạt động SX&SD BTTP trong xây dựng.4 Đối tượng khảo sát và phạm vi khảo sát 1.1 Đối tượng khảo sát Đối tượng khảo sát của đề tài là giám đốc điều hành (CEO) nhà máy sản xuất, trưởng phòng thí nghiệm, chủ đầu tư, kỹ thuật viên phòng thí nghiệm, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, kỹ sư hiện trường có liên quan đến toàn bộ quá trình SX&SD BTTP.2 Phạm vi khảo sát Phạm vi khảo sát thực hiện ở các đối tượng khảo sát đang tham gia dự án trên địa bàn tỉnh Tiền Giang có liên quan đến việc sử dụng và sản xuất BTTP trong khoảng thời gian khảo sát 02 tháng, từ tháng 02/2024 đến tháng 04/2024.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Nghiên cứu này xác định được các YT gây BĐKH của việc SX&SD BTTP khảo sát tại các dự án tỉnh Tiền Giang, phân tích và đưa ra một số nhận xét hữu ích từ việc thống kế mô tả và xếp hạng các YT.
Từ đó, giúp các tập thể, cá nhân tham gia dự án đề ra các biện pháp xử lý kỹ thuật, giúp hạn chế tác động của việc SX&SD BTTP đến BĐKH. Làm cơ sở để các nghiên cứu sau phân tích các mối liên hệ giữa các YT, đánh giá nhóm các YT và từ đó đưa ra các phương án, biện pháp nhằm cải thiện những ảnh hưởng tiêu cực của việc SX&SD BTTP đến BĐKH để các đơn vị, các cá nhân tham gia dự án có thể áp dụng để ngăn ngừa và hạn chế sự ảnh hưởng.2 Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu xác định được các YT quan trọng ảnh hưởng đến BĐKH trong hoạt động SX&SD BTTP trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. Kết quả này có thể giúp những chủ sở hữu và các chuyên gia, kỹ sư xây dựng nâng cao nhận thức và đưa ra quyết định để xử lý và hạn chế tác động tiềm tàng của các YT đối với BĐKH. Với các YT đã được xác định, các bên tham gia hoạt động SX&SD BTTP trên địa bàn tỉnh Tiền Giang hoặc thậm chí các địa phương khác hiểu rõ vấn đề, có thể lên các kế hoạch để điều chỉnh thực hành, thực hiện đúng yêu cầu về xử lý kỹ thuật góp phần cùng với Quốc Gia cũng như Thế Giới vào giảm sự tác động đến BĐKH toàn cầu đang ngày trở nên nghiêm trọng.6 Cấu trúc đồ án 5 Đồ án gồm có 5 Chương được thể hiện chi tiết ở Hình 1.2 Cấu trúc của đồ án 6 CHƯƠNG 2.1 Giới thiệu chương Chương 2 trình bày tổng quan các nội dung BTTP và BĐKH có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đồ án, tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm xác định sơ bộ các YT.
Lược đồ cấu trúc của chương 2 được thể hiện qua Hình 2.1 Lược đồ cấu trúc của chương 2 7 2.2 Tổng quan về BTTP “Ngành xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần hướng tới sự phát triển bền vững. Bê tông được xem là vật liệu quan trọng nhất của ngành xây dựng do có mặt ở mọi nơi trên tất cả công trình xây dựng” (Sealey, Phillips, & Hill, 2001). Bê tông là vật liệu kết cấu chính của các dự án xây dựng trên toàn thế giới, đây là vật liệu được sử dụng nhiều thứ hai trên thế giới, chỉ sau nước (Miller, Horvath, & Monteiro, 2018). Do tầm quan trọng của bê tông trong lĩnh vực xây dựng nên việc đánh giá tác động môi trường của quá trình sản xuất bê tông là rất quan trọng (Hottle et al.
“Bê tông cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra nhiều tác động môi trường trong lĩnh vực xây dựng, bao gồm sự nóng lên toàn cầu, cạn kiệt nhiên liệu hóa thạch, cạn kiệt tài nguyên khoáng sản, tiêu thụ nước,. Vì bê tông không thể được thay thế bằng các vật liệu xây dựng khác trên quy mô lớn nên việc cải thiện giảm tác động môi trường là điều cần thiết, đòi hỏi phải có phương pháp đánh giá, có khả năng đo lường tác động môi trường của việc SX&SD bê tông và theo dõi kết quả của các sáng kiến đổi mới này BTTP là sự chuyển đổi sản xuất bê tông từ sản xuất nhỏ lẻ, rải rác nhiều nơi sang sản xuất tập trung quy mô lớn, thực hiện chuyên môn hóa, thương mại hóa và xã hội hóa sản xuất bê tông trong ngành xây dựng. BTTP là một công nghệ cũ, được cấp bằng sáng chế lần đầu tiên ở Đức vào năm 1903. Ngành công nghiệp này ở Châu Âu và Mỹ đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc vào nửa sau thế kỷ 20 và sải cánh ở các nước nhỏ hơn ở Châu Âu và các nước Đông Á (Saleh & Mohammed, 2021).
Quy trình sản xuất BTTP được trình bày tóm tắt theo sơ đồ Hình 2.2 Quy trình sản xuất BTTP 9 SX&SD BTTP có 05 giai đoạn chính (Anna George Nellickal, 2015) được thể hiện qua sơ đồ Hình 2.3 Các giai đoạn SX&SD BTTP 2.3 Tổng quan về biến đổi khí hậu 2.1 Biến đổi khí hậu “BĐKH là một trong những thách thức lớn của thời đại, là mối lo cho xã hội và môi trường của toàn nhân loại và là vấn đề mang tính toàn cầu. Trái Đất đang từng ngày phải gánh chịu những ảnh hưởng tiêu cực mà BĐKH đem lại” (Thắng et al., 2010) Có thể kể đến như Hình 2.4 Tác động của biến đổi khí hậu đối với Trái Đất Con người là tác nhân chính gây ra BĐKH và có khả năng vấn đề này sẽ kéo dài trong vài thập kỷ tới. Mức độ tác động của con người đến BĐKH vẫn chưa được đánh giá đúng chứng ta vẫn còn chủ quan trước những tác động do con người gây ra, làm cho tình trạng BĐKH ngày một nặng nè hơn (Trenberth, 2018). Cần phải có hành động quyết liệt ngay lúc này vì một tương lại không phải khó khăn và tốn kém cho việc ứng phó với những ảnh hưởng mà BĐKH gây ra (Adedeji, 2014).
Theo đánh giá từ các nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam (Bùi & Ngô, 2022; Phan & Ngô, 2013; TNMT, 2009), BĐKH đã xuất hiện ở Việt Nam với cường độ, quy mô và tần suất ngày càng khó lường, mức độ nghiêm trọng cũng tăng đáng kể.