Chương 1 TỔNG QUAN Vấn đề NHT đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu nhưng căn cứ vào các mục tiêu chúng tôi đề cập đế n một số tài liệ u có liên quan sau đây: 1. Tình trạng NHT trên thế giới Từ những nãm 1960, tỷ lệ cấc cạp vợ chồng áp dụng BPTT tãng nhanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển và việc sử dụng các BPTT giờ đây đã bị chi phối bởi các BPTT hiện đại. Tuy nhiên không phụ thuộc những xu hướng này, mang thai ngoài ý muốn vẫn còn cao, chủ yếu bởi số con mong muốn đang giảm xuống. Hàng năm trên thế giới số ca mang thai ngoài ý muốn-kể cả không đúng lúc cũng như không hề muốn gần bằng số ca trong ý muốn và hơn 1/2 mang thai ngoài ý muốn đều kết thúc bằng việc NHT [14].
Loại bỏ mang thai ngoài ý muốn và hậu quả NHT sẽ đòi hỏi tăng mức độ sử dụng BPTT đến một mức tại đó phụ nữ trong độ tuổi có khả năng sinh đẻ nhưng không muốn có thai sẽ áp dụng các BPTT có hiệu quả hoàn hảo (100%), điều đó khó có thể thực hiện được, bởi vậy chưa thể loại bỏ vấn đề NHT do thất bại khi sử dụng các BPTT [32], Viện Alan Guttmacher công bố năm 1999, các cặp vợ chồng trên khắp thế giới đang ngày càng sử dụng các BPTT trong cuộc sống sinh sản của họ. Tuy nhiên, bất chấp khuynh hướng này sự cố mang thai ngoài ý muốn vẫn còn cao. Hàng năm trên thế giới có chừng khoảng 133 triệu ca sinh xảy ra, trong số đó có khoảng í/4 được ước lượng là do không đúng ý muốn-kể cả không đúng lúc cũng như không hề mong muốn. Hơn thế nữa ước chừng có 46 triệu ca NHT, trong tổng số khoảng 79 triệu ca mang thai ngoài ý muốn hàng năm.
Nói cách khác, hàng năm số ca mang thai ngoài ý muốn cũng gần bằng số ca theo ý muôn, hơn 1/2 mang thai ngoài ý muốn được kết thúc b ằng NHT. Rõ ràng là s ự điều khiển sinh sản là chưa hoàn hảo và NHT ngày càng lan rộng. Những ước lượng mang tính toàn cầu trên chưa thể hiện sự khác biệt lớn giữa dàn số các nước. Nói chung, các khu vực đang phát triển với tỷ lệ sinh t ương đôi cao (châu Phi, châu Mỹ La Tinh và Nam á) có tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn 5 và NHT cao hơn các khu vực phát triển với tỷ lệ sinh thấp (Bắc Mỹ, Đổng á, Tây Âu, Nhật Bản, và châu Đại Dương).
Tuy nhiên tình thế trái ngược lại xảy ra đối với tỷ lệ mang thai được ghi nh ận là không theo ý muốn. Có hơn 1/2 (56%) tổng số ca mang thai ngoài ý mu ốn ở c ấc n ước phát triển, so với 42% ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ mang thai kết thúc bởi NHT cũng cao hơn ở các nước phát triển so với các nước kém phát triển (41% so với 23%). Rất khó có được số liệu chính xác về con số NHT ở các nước trên thê' giới.
Số liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau thường không trùng khớp và thi ếu chính xác, khi thì cao, lúc quá thấp so với thực tế [35]. Tổng tỷ suất NHT đối với một số nước như: Rumani (1990) là 1,8; Liên Xô (1987) là 2,5; Tiệp Khắc (1990) là 1,9; Hunggari (1987) là 1,8; Trung Quốc (1987) là 2,4; Singapo (1987) là 2,2; Hoa Kỳ (1987) là 1,9 và Hà Lan (1987) là 1,6 [30]. Tình trạng NHT ở Việt Nam Theo tài liệu của Liên hiệp quốc công bố năm 1994, nước ta đứng vào hàng thứ 7 trong 10 nước có tỷ lệ NHT cao nhất thế giới [26], Kết quả điều tra Nhân khẩu học và sức khoẻ năm 1997, tỷ số NHT cho cả nước là 320 cho 1.000 trường hợp mang thai, có nghĩa là cứ 03 tr ường hợp có thai thì có 01 trường hợp NHT. Tổng tỷ suất NHT cho toàn quốc là 1,3%, thu ộc mức cao nh ất thê gi ới [19].
Số liệu thống kê Y tê' từ năm 1990-1999 cho thấy, tình trạng NHT ở nước ta là đáng lo ngại, trung bình mỗi năm có khoảng trên 1 tri ệu ca NHT. Chi’ tính riêng t ừ nãm 1996 đến 1998 tỷ lệ NHT ở Việt Nam luôn ở mức cao, năm 1996 tỷ lệ này là 64,4, nãm 1997 là 59,8 và nãm 1998 là 51,9 [4]. Theo điều tra biến động DS-KHHGĐ hàng năm, tỷ lệ phụ nữ hiện đang có ch ổng NHT trong 12 tháng trước thời điểm điều tra vẫn chưa giảm, năm 1995 là 2,19%; năm 1997 xuống 1,44% vào năm 2000 là 2,18%. Sự khác biệt trong NHT gi ữa thành th ị và nông thôn là đáng kể.
Trong tổng số các ca NHT trước 1/7/2000 - 6 thì vùng đồng bằng Sông Hồng chiếm tới 28,15% tổng số, vùng Đông Bắc 26,91% tổng số, vùng đồng bằng Sông Cửu Long 14,19% tổng số, vùng Bắc Trung bộ 11,3% tổng số và 03 vùng còn lại, mỗi vùng chiếm dưới 10% [26]. Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là một trong các cơ sở cung cấp dịch vụ NHT. Từ năm 1995 đến nãm 2000 số lượng phụ nữ tìm đến dịch vụ NHT cứ tăng dần lên (năm 1995 là 5. Giai đoạn 1995-1999 tỷ số NHT/ s ố ca sinh s ống g ần bằng 1/1, năm 2000 tỷ số này có giám xuống đôi chút 0,8/1 [26].
Thực trạng NHT trên thế giới và ở Việt Nam có liên quan đến các yếu tố như BPTT hiện đang áp dụng cũng như các yếu tố về trạng thái sinh sản của người phụ nữ. Để tìm hiểu mối liên quan này, chúng tôi xin nêu lên các yếu tố đó như sau: 1. Những yếu tô dẫn đến thực trạng NHT trên thế giới và ở Việt Nam Mối quan hệ giữa NHT và trạng thái sinh sản là tài liệu tham khảo tốt nhất nghiên cứu về SKSS của phụ nữ. Những đặc tính sinh sản của người phụ nữ bao gồm tuổi, số con sinh ra sống và tình trạng hôn nhân [15].
Tỷ lệ NHT cao thường đi đôi với tỷ lệ áp dụng các BPTT thấ p và tỷ lệ thấ t bại của BPTT cao. Mặc khác, hiệu quả của áp dụng các BPTT còn phụ thuộc vào kiến thức, thái độ và thực hành của những cặp vợ chồng và từng cá nhân trong độ tuổi sinh đẻ. Mức độ hiểu biết cao thì áp dụng các BPTT tốt hơn, và tỳ lệ NHT giảm [35]. Theo Bongaarats công bố năm 1990, tại các nước đang phát triển, sức ép của việc giảm mức sinh trong khi dịch vụ KHHGĐ thiếu hoặc kém hiệu quả, dẫn đến hậu quả là tỷ lệ thất b ại trong vi ệc s ử d ụng các BPTT và nhu cầu tránh thai không được đáp ứng cũng cao.
Dựa trên việc phân tích số liệu điều tra của 48 nước đang phát triển ước tính rằng 26% trường hợp sinh là ngoài ý muốn. Điều này chứng tỏ còn một khoảng cách lớn giữa kiến thức, thái độ và thực hành về sử dụng các biện pháp KHHGĐ ở các nước này [28]. 7 Việt Nam chưa có những nghiên cứu đầy đủ và toàn diện v ề tình tr ạng NHT. Những nghiên cứu đã tiến hành cho thấy tình trạng NHT chịu tác động tương tự như các nước trên thế giới.
Nhiều lý do dẫn đến tỷ lệ NHT cao, trong đó có mối liên quan giữa quy mô gia đình và sử dụng các BPTT. Trong mô hình gia đình có ít con hi ện đ ược khuyên khích ở Việt Nam thì các BPTT lại chưa đa dạng và sẵn có ở mọi vùng. Sự quá phụ thuộc vào một BPTT (như DCTC) và những tổn tại trong cung cấp d ịch v ụ còn đang là v ấn đ ề bất cập [14]. Biện pháp tránh thai đang áp dụng Từ thập kỷ 1980 trở lại đây, các BPTT trở nên rất phổ biến ở nước ta.
Theo m ột số tài liệu thống kê, tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các BPTT lén đến 70% trong những năm cuối thế kỷ XX. Chúng ta đang đứng tr ước m ột th ực tr ạng c ần quan tâm: các BPTT chưa được đa dạng hoá tại các c ơ s ở d ịch v ụ; bi ện pháp tránh thai hiện đại được sử dụng chủ yếu là DCTC; thất bại về các BPTT còn cao. Mặc dù tỷ lệ chấp nhận các BPTT tương đối cao song sô' lượng các trường hợp NHT cũng tương đối nhiều và tỷ lệ phá thai đứng vào hàng cao trên thê giới. Theo một số thống kê cứ 1 trẻ sinh ra thì bên cạnh đó có 1 trường hợp phá thai [18].
Dựa vào kết quả cuộc điều tra Nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994, tý lệ đang dùng BPTT chung ở phụ nữ đã từng có chồng trong độ tuổi sinh đẻ là 61%, đ ối v ới ph ụ n ữ đang có chổng thì tỷ lệ này là 65%. Biện pháp đang được dùng nhi ều nh ất là DCTC, khoảng 1/3 phụ nữ đang có chồng trong độ tuổi sinh đẻ đang áp dụng, nó chiếm trên 1/2 trong tổng số các biện pháp và gần 3/4 tổng số các biện pháp hiện đại. Hai biện pháp phổ biến tiếp theo là tính vòng kinh và xuất tinh ngoài âm đạo, t ương ứng là 10% và 11%. Như vậy 21% phụ nữ có chổng đang dựa vào các biện pháp ít hi ệu quả này.
T ỷ l ệ đang dùng các biện pháp khác không phải là DCTC còn thấp: BCS 4%, TTT viên 2,1%, đình sản nữ 3,9%, đình sản nam chi là 0,2% [18]. Tỷ lệ phụ nữ hiện đang có chồng đang sử dụng BPTT tăng lên từ 53% nãm 1988 lên 65% năm 1994 và 75% nãm 1997. Điều thú vị là, tỷ lệ sử dụng BPTT 8 nói chung tăng 10% trong thời kỳ 1994-1997 nhưng tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại trong thời kỳ này lại tăng lên chút ít 12%. Điều đó có ý nghĩa là tỷ lệ sử dụng các BPTT truyền thống đã giảm đi trong thời gian từ 1994-1997 gần 2% [25].
Có hai đặc điểm về cơ cấu sử dụng BPTT ở Việt Narmưu thế của DCTC trong các BPTT hiện đại và tỷ lệ sử dụng các biện pháp tính vòng kinh và xu ất tinh ngoài âm đ ạo trong toàn bộ các biện pháp khá cao. Phương pháp được sử dụng phổ biến nhất tại thời điểm của cả ba cuộc điều tra 1988, 1994 và 1997 vẫn là DCTC [25]. Vào năm 1997, có tới > 50% phụ nữ đã từng có chồng trong độ tuổi sinh đẻ trả lời rằng họ đã từng sử dụng DCTC một lúc nào đó trong cuộc đời.