CHƯƠNG 1 KHÁI QUAT VE CÔNG SUC ĐÓNG GOP TRONG CHIA TAI SAN CHUNG CUA VO CHONG KHI LY HON 1. Khái niệm về công sức đóng góp trong chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Trong xã hội hiện nay, các giá trị hôn nhân có nhiều thay đôi khiến rất nhiều cặp vợ chồng mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không thé cứu van, duy trì thi ly hôn chính là sự lựa chọn giúp cả hai bên được giải phóng. Khi quan hệ hôn nhân cham dứt, ngoài van dé con cái, cha mẹ hai bên thì vấn đề tài sản luôn được các cặp vợ chồng quan tâm hàng đầu. Trong các khối tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chỉ có khối tài sản chung là phải phân chia khi ly hôn.
Theo từ điển luật học “chia tài sản chung của vợ chồng là phân chia tài sản chung của vợ chong thành từng phan thuộc sở hữu riêng của vợ và của chồng ”. Theo đó, phân chia tài sản chung vợ chồng chính là việc cham đứt quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng đối với toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng hoặc một phan khối tai sản chung của vợ chồng. Sau quá trình phân chia, tài sản chung sẽ được chia thành từng phan tài sản xác định và xác lập quyền sở hữu riêng của vợ, chồng đối với phan tai sản được chia. Như vậy có thể hiểu, chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là phân chia tài sản chung của vợ chồng thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ và của chồng khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.
Ly hôn là giải pháp cuối cùng khi hôn nhân không thể cứu vãn. Vợ, chồng hoặc cả hai không muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân và muốn được cởi bỏ khỏi các ràng buộc về tình cảm cũng như vật chất với nhau. Sự ràng buộc về vật chất lớn nhất của hai vợ chồng là khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đây cũng là khối tài sản duy nhất cần phải phân chia. Việc phân chia này dựa trên nguyên tắc nền tảng là sự thỏa thuận của vợ chồng, chỉ trong trường hợp vợ chồng không đạt được sự thỏa thuận thì Tòa án mới đứng ra phân chia căn cứ vào nguyên tắc sau: Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này và yếu tố lỗi.
Tuy nhiên có thé nhận định rằng CSĐG trong việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tải sản chung của vợ chồng là yếu tố then chốt dé Tòa án đánh giá, xác định khi chia tài sản chung vợ chong. Thứ nhất, công sức đóng góp là căn cứ xác định phan quyên của vợ, chong trong khối tài sản chung Dé duy trì và phát triển gia đình, đảm bảo các nhu cau sinh hoạt, kinh tế, lợi ích chung của từng thành viên đòi hỏi giữa vợ chồng phải có khối tài sản chung để đảm bảo đời sống chung của gia đình. Tài sản chung của vợ chồng chỉ bao gồm những tài sản mà vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, cùng với các hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản của hai vợ, chong. Đối với những tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn, được tặng cho riêng, được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân sẽ thuộc quyền sở hữu riêng của vợ, chồng.
Tuy nhiên trong thực tế do khối tài sản chung không đủ chỉ trả, khối tài sản riêng có thể được đem ra sử dụng; hoặc von di là nghia vụ riêng của vo (chồng) nhưng tài sản chung phải đem ra gánh vác. Trong quan hệ hôn nhân sự phân chia tài sản riêng, chung có thể không rạch ròi để hướng tới bảo vệ lợi ích chung duy trì đời sống gia đình, nhưng vẫn cần thiết phải tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu riêng của vợ, chồng: khối tài sản riêng giữa các bên độc lập với nhau và khối tài sản chung vẫn cần có sự tách bạch với khối tài sản riêng. Thời điểm quá trình hôn nhân diễn ra, vợ và chồng đã cùng tham gia đóng góp bằng cả khối tài sản riêng và tài sản chung để duy trì tài sản gia đình, khiến khối tài sản riêng, chung có sự chuyên dịch và đan xen vao nhau. Vì vậy khi hôn nhân châm dứt và các quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cần được thanh toán, thì các phần đóng góp này sẽ được ghi nhận là một trong những căn cứ xác định phần quyền của vợ, chồng trong khối tài sản chung [27, tr.
Ở Việt Nam, ban đầu việc đưa yếu tố xác định công sức đóng góp trong việc tạo lập duy trì và phát triển khối tài sản chung vào Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 được hình dung như một biện pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của người phụ nữ sau khi ly hôn, trong điều kiện đa số phụ nữ có chồng đều dành phần lớn làm công việc nội trợ, do đó, không trực tiếp làm ra của cải. Theo đó, người vợ nội trợ có thể yêu cầu chia một nửa (hoặc ít nhất là một phan) tài sản chung khi cham dứt hôn nhân, cho dù việc tích lũy của cải chung là kết quả trực tiếp từ công sức lao động ngoài xã hội của người chồng [27, tr. Đến nay trước sự phát triển của xã hội, việc xác định công sức đóng góp không còn đơn giản chỉ là bảo vệ quyền và lợi ích của người vợ ở nhà nội trợ mà còn là bảo vệ quyền lợi của cả người chồng, bảo vệ và ghi nhận sự đóng góp của cả vợ và chồng cùng di làm, lao động, tạo ra thu nhập trong quá trình hôn nhân. Bởi lẽ tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra mà chỉ cần một bên vợ chồng tạo ra được trong thời kỳ hôn nhân, vì vậy thực tế sự đóng góp và hình thức đóng góp giữa vợ chồng sẽ có sự khác nhau.
Người đóng góp ít, người đóng góp nhiều, người đóng góp bằng của cải tài sản, người đóng góp bang lao động, bang tinh thần, thậm chí có người không hề có sự đóng góp cho tài sản chung của gia đình. Những sự đóng góp này đều là căn cứ, cơ sở quan trọng để vợ chồng được ghi nhận phần quyền của mình trong khối tài sản chung vợ chồng. Trong thời kỳ hôn nhân, sở hữu chung mang tính hợp nhất: phần quyền của vợ chồng đối với tài sản chung không được xác định. Vì vậy di công sức đóng góp là cơ sở xác định phân quyên của vợ, chông trong khôi tải sản 10 chung nhưng yếu tố này chưa được xem xét, vợ, chồng vẫn có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
Tuy nhiên vẫn không thể phủ nhận sự đóng góp của vợ hoặc chồng trong việc xây dựng khối tài sản chung, người đóng góp nhiều, người đóng góp ít, người không hề có ý thức đóng góp vào việc xây dựng cuộc sống gia đình. Khi hôn nhân chấm dứt, sở hữu chung mang tính chat theo phần và dé hoàn trả xứng đáng công sức vợ chồng đã bỏ ra thì việc thanh toán tài sản chung được thực hiện dựa vào công sức đóng góp của mỗi người vào việc duy trì và phát triển khối tài sản đó. Công sức đóng góp được hoan trả này tương đương với phần quyền của vợ, chồng trong khối tài sản chung. Thứ hai, công sức đóng góp là cơ sở để Tòa án phân chia tài sản chung của vợ chông khi ly hôn Nền tảng xây dựng khối tài sản chung dựa vào ý thức vun vén giữa hai vợ chồng trong việc đóng góp công sức xây dựng gia đình, vì vậy để đảm bảo lợi ích của vợ, chồng bên nào có ý thức đóng góp công sức nhiều hơn thì sẽ có phần quyền của mình nhiều hơn trong khối tài sản chung vợ chồng.
Pháp luật hôn nhân và gia đình ghi nhận và bảo đảm quyền lợi đó của vợ chồng. Quan hệ tài sản trong quá trình hôn nhân chỉ có hai vợ chồng là người rõ nhất, vì vậy khi hai vợ chồng đồng thuận và thừa nhận phần quyền của người còn lại, việc chia tài sản chung sẽ dễ dàng, thuận lợi. Nhưng khi sự thỏa thuận không đạt được, yêu tố công sức đóng góp sẽ thành nguyên nhân khiến hai bên bất đồng, mâu thuẫn kéo dài khi không ai chịu công nhận sự đóng góp từ đối phương. Vì công sức đóng góp càng lớn, phần quyền của vợ, chồng càng nhiều, tỷ lệ tài sản chung khi chia sẽ càng có sự chênh lệch.
Đây là một vấn đề khó trong giải quyết án hôn nhân gia đình, đòi hỏi có sự giải quyết khách quan, công băng của Tòa án. Để giải quyết tranh chấp này, Tòa án cần xác định công sức đóng góp của các đương sự trong sự hình thành, phát triển của 11 khối tài sản chung để phân chia cho phù hợp, ai có nhiều công sức đóng góp hơn được nhận nhiều phần tài sản hơn vả ngược lại. Dé chia tài sản chung của vợ chồng cần phải xác định chính xác khối tài sản chung hiện có. Thông thường thi tài sản chung chia đôi, nhưng dé đảm bảo sự công bằng, bình đăng và hợp lý thì cần xét đến công sức của mỗi bên bỏ ra dé xây dựng khối tài sản chung đó.
Công sức của mỗi bên phải kế đến trách nhiệm thu vén, bảo vệ khối tải sản chung đó. Theo luật quy định, lao động trong gia đình được tính ngang với lao động sản xuất. Quy định đó hoàn toàn phù hợp với thực tế và bảo đảm cho bên làm công việc nội trợ (thường là người vợ) không bị thiệt thòi. Nhưng thực tế không ít những gia đình tài sản chung chỉ do một bên bỏ sức lao động của mình để tạo ra tài sản trong gia đình, người còn lại không hề có sự đóng góp mà còn phá tán tài sản gia đình, khiến khối tài sản chung vợ chong bị sụt giảm.
Đối với trường hợp vợ chồng vẫn còn chung sống với gia đình bên vợ (chồng) thì yếu tố công sức đóng góp cũng được đặt ra. Nếu tài sản của họ không thể xác định được thì vợ chồng được chia một phần trong khối tài sản đó, căn cứ vào công sức đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung đó [14, tr.