Chương 1: Giới thiệu tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân 2. Khái niệm rủi ro tín dụng và rủi ro tín dụng cá nhân Danh từ “rủi ro” có nhiều khái niệm khác nhau. Frank Knight một học giả người Mỹ, định nghĩa “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”.
Allan Willett cho “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi”. Inrving Perfer lại cho rằng “rủi ro là tổng hợp của những sự ngẫu nhiên có thể đo lường bằng xác suất”. Một học giả khác người Anh là Marilic Hurt Mr Carty quan niệm “rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định được”. Tín dụng xuất phát từ chữ La-tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm.
Tiếng Anh là Credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị, dưới hình thức hiện vật hoặc tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn ban đầu. Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn.
Trong thực tế có rất nhiều định nghĩa rủi ro khác nhau: Rủi ro tín dụng (Theo Hiệp ước Basel) là rủi ro do không chắc chắn hay sự sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được thỏa thuận và quy định trong hợp đồng. Theo thông lệ quốc tế thì rủi ro tín dụng là một loại rủi ro do sự suy giảm về khả năng trả nợ của khách hàng. Theo thông tư 39/2013/TT-NHNN, ngày 31/12/2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì rủi ro tín dụng trong hoạt động của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo Khan và Ahmed (2003) cho rằng rủi ro tín dụng trong ngân hàng là xác suất bên đi vay không thực hiện việc cam kết trả tiền của mình.
Rekha 6 Arunkumar trong bài nghiên cứu về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cho rằng rủi ro tín dụng là sự không trả được nợ của người vay, nó vẫn là rủi ro quan trọng nhất cần được quản lý cho đến ngày nay. Rủi ro tín dụng là được phản ánh trong thành phần vốn của nền kinh tế, ngân hàng được yêu cầu phải kiểm soát nó để ngăn chặn chống lại những rủi ro khác. Từ các định nghĩa trên, ta có thể thấy RRTD xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh. Gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn.
Trong trường hợp người vay tiền bị phá sản, thì việc thu hồi gốc và lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng. Nó là sự tổn thất, mất mát về tài chính mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn của ngân hàng không trả nợ được đúng hạn, không thực hiện đủng cam kết với bất kỳ lý do nào. Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân theo cam kết.1 quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN). Với nền kinh tế thị trường, trong môi trường kinh doanh luôn biến động, thì tính ổn định trong các đơn vị, các tổ chức kinh tế mang tính chất tương đối.
Khi doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng để kinh doanh mà gặp phải rủi ro mất khả năng thanh toán nợ, chính là rủi ro của Ngân hàng. Rủi ro rất đa dạng, nó có thể là rủi ro bị ứ đọng vốn, rủi ro thiếu vốn khả dụng, rủi ro khi các vật đảm bảo tín dụng không còn giá trị như khi đánh giá ban đầu trước khi cho vay, rủi ro không thu hồi được nợ. Định nghĩa về rủi ro tín dụng cá nhân: Theo Nguyễn Đình Thọ (2011), định nghĩa: Rủi ro tín dụng cho vay cá nhân được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho vay KHCN. Hay cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời 7 của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lượng và thời hạn.
RRTD trong cho vay KHCN sẽ dẫn đến tổn thất tài chính tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Đặc điểm rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân Các khoản vay của KHCN thường có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng. Sở dĩ như vậy là do tình hình tài chính của KHCN thường thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng công việc và sức khỏe của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình thường có trình độ quản lý yếu, thiếu kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật và khoa học công nghệ lạc hậu, do đó khả năng cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế.
Do đó, ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi người đi vay thất nghiệp, phá sản,…Mặt khác, việc thẩm định và quyết định cho vay KHCN cũng hay gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ, không rõ ràng, các thông tin cá nhân thường bị giấu kín, do đó chất lượng thẩm định khách hàng không cao. Điều này ảnh hưởng đến các quyết định cho vay của NH. Chính vì vậy, các khoản vay KHCN thường tiềm ẩn nhiều RRTD. Khả năng tài chính của người vay tín dụng cá nhân Theo khái niệm cơ bản nhất, rủi ro tín dụng cá nhân là khả năng khách hàng cá nhân vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, đó là khả năng khách hàng cá nhân không trả hoặc không trả đầy đủ, hoặc không đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Có nhiều tiêu chí phản ánh RRTD KHCN của NHTM: - Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ; - Tỷ lệ nợ xấu trên tổng vốn chủ sở hữu; - Nợ có vấn đề, cần cảnh báo sớm. RRTD KHCN là khả năng không trả được nợ của khách hàng nên các ngân hàng cần phát hiện sớm các khoản vay có vấn đề, thuộc cảnh báo sớm. Khách hàng phá sản, lừa đảo, chây ỳ trong trả nợ vay là biểu hiện rõ nhất; bên cạnh đó các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ khác nhau cũng thể hiện 8 các khả năng vỡ nợ khác nhau. Nhiều ngân hàng cho rằng nếu một khoản nợ đến hạn không trả được, thì các khoản nợ khác của cùng một chủ thể chưa đến hạn cũng được coi là có rủi ro tiềm ẩn.
Trường hợp dù nợ chưa đến hạn hoặc đến hạn vẫn trả được nhưng tình hình tài chính yếu kém, môi trường kinh doanh có biến động không thuận lợi cho khách hàng thì khoản nợ đó cũng được coi là có rủi ro tín dụng. Những thước đo RRTD KHCN cho thấy rủi ro tín dụng ở độ rộng đối với nhiều mức độ khác nhau. Điều này cho thấy, RRTD KHCN không chỉ thể hiện ở con số nợ xấu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng dư nợ, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp. Trong đề tài này, RRTD trong cho vay KHCN được đo lường thông qua chất lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ của khách hàng.
Theo Thông tư 24/2013/TT-NHNN ngày 02/12/2013, Thông tư 04/2019/TT-NHNN ngày 29/3/2019, Văn bản hợp nhất 15/VBHN-NHNN ngày 04/4/2019 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có và cam kết ngoại bảng của Agribank thì các khoản vay sẽ được chia thành 05 nhóm: - Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: + Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; + Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 1. - Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: + Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; + Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; 9 + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 2; + Nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn (nhóm 2) ở một số trường hợp. - Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: + Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; + Nợ gia hạn lần đầu; + Nợ được miễn hoặc giảm lãi cho khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; + Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 3; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 3; + Các khoản nợ đặc biệt khác. - Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: + Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; + Khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; + Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; + Nợ quá hạn được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 4; + Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ được tổ chức tín dụng phân loại lại vào nhóm nợ nhóm 4; + Các khoản nợ đặc biệt khác.