phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành các chương như sau: CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 5: HÀM Ý VÀ KHUYẾN NGHỊ 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Giới thiệu chương 2 Nội dung chính của chương này là trình bày những cơ sở lý thuyết về rủi ro, rủi ro mất khả năng thanh toán dẫn đến hiện tượng phá sản ngân hàng và một số chỉ tiêu đo lường rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM. Đồng thời để làm sáng tỏ và tin cậy hơn về cơ sở lý thuyết, tác giả sẽ đưa vào bài một số nghiên cứu trước đây có liên quan mật thiết đến các yếu tố tác động đến rủi ro mất khả năng thanh toán của ngân hàng. Từ đó tác giả có thể tìm ra được khung lý thuyết dựa trên nền tảng lý thuyết và bài nghiên cứu có sẵn để có thể hướng đến mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu của đề tài.1 Lý thuyết về rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM 2.1 Khái niệm rủi ro Rủi ro là một khái niệm phổ biến, hầu như ai cũng có thể biết đến phạm trù này. Tuy nhiên lại không có một quan điểm thống nhất nào về rủi ro.
Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau. Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, có thể kể đến như: Allan Willett cho rằng “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”, quan điểm này nhận được sự ủng hộ của một số học giả như: Hardy, Blanchard, Crobough và Redding, Klup, Anghell….Trong một số nghiên cứu của John Haynes và được nhắc lại một lần nữa trong cuốn Lý thuyết Bảo hiểm và Kinh tế của Irving Pfeffer thì rủi ro là: “Khả năng xảy ra tổn thất, là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”. Tuy nhiên, quan điểm được xem là hiện đại và nhận được sự đồng tình cao là của Frank H. Knight: “Rủi ro là sự không chắc chắn có thể đo lường được”.
Các định nghĩa trên dù ít nhiều khác nhau song có thể thấy rằng nó cùng đề cập đến hai đặc điểm cơ bản của rủi ro, đó là: “Rủi ro là sự không chắc chắn và là khả năng xảy ra kết quả không mong muốn. Trong các khả năng xảy ra, có ít nhất một khả năng đưa đến kết quả không mong muốn. Và kết quả này có thể đem lại tổn thất hay thiệt hại cho đối tượng gặp rủi ro.2 Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Theo Amalendu Ghosh (2012), “Rủi ro ngân hàng là tổn thất tiềm năng mà ngân hàng gặp phải do một hoặc một số sự kiện xảy ra. Rủi ro phát sinh do sự xảy ra không chắc chắn của các sự kiện liên quan mà sự kiện này có nguy cơ gây ra thiệt hại cho ngân hàng”.
Khi xét đến rủi ro trong ngân hàng, ta quan tâm đến khả năng mất mát hoặc giảm sút giá trị tài sản từ các sự kiện liên quan như nền kinh tế kém tăng trưởng, chính sách tài chính thay đổi, giao dịch diễn ra không thuận lợi, lãi suất hoặc tỷ giá biến động tiêu cực, giá cổ phiếu giảm,….Nếu một khi rủi ro xảy ra liên tiếp, ở mức độ lớn và phạm vi rộng rủi ro tạo thành chuỗi, thành sóng thì cả về mặt thực tế và lý thuyết vĩ mô đều chứng minh, khi đó hiệu ứng domino sẽ xảy ra nhanh chóng trên các thị trường tín dụng, chứng khoán, bất động sản, thương mại…….và ngân hàng bị phá sản, thị trường tài chính ngân hàng sụp đổ, phá vỡ sự ổn định của hệ thống.3 Rủi ro mất khả năng thanh toán của Ngân Hàng Thương Mại 2.1 Khái niệm rủi ro mất khả năng thanh toán ngân hàng thương mại Rủi ro mất khả năng thanh toán (probability of insolvency) là một trong những rủi ro được đề cập trong giai đoạn gần đây đặc biệt khi các cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu nói chung và từng khu vực nói riêng liên tiếp xảy ra. Tuy nhiên khái niệm về rủi ro mất khả năng thanh toán vẫn chưa được đề cập phổ biến trong các nghiên cứu. Theo Lastra và Schiffman (1999), tình trạng mất khả năng thanh toán có thể được định nghĩa bằng hai cách. Thứ nhất, đó là sự thất bại trong việc hoàn trả những nghĩa vụ tài chính khi đến hạn.
Thứ hai, đó là tình trạng khoản mục nợ phải trả vượt quá tài sản trên bảng cân đối kế toán. Như vậy có thể hiểu rằng rủi ro mất khả năng thanh toán là một biến cố bất ngờ xảy ra khi một cá nhân hoặc một tổ chức không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Rủi ro này thường có thể dẫn đến việc phá sản của tổ chức. Đối với ngành ngân hàng, rủi ro mất khả năng thanh toán xuất hiện khi ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản nợ khi đến ngày đáo hạn.
Các ngân hàng lúc này sẽ rơi vào tình trạng kiệt quệ về tài chính và đi đến việc phá sản hoặc hợp nhất, sáp nhập với ngân hàng khác nhằm tạo ra một ngân hàng mới vững mạnh hơn và bảo vệ quyền lợi của người cho vay. Rủi ro mất khả năng thanh toán khác với rủi ro thanh khoản bởi rủi 10 ro thanh khoản chỉ tình trạng nhất thời ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các tài sản ra tiền để đáp ứng nghĩa vụ nợ. Rủi ro thanh khoản không dẫn đến việc phá sản hay hợp nhất, sáp nhập ngân hàng. Khái niệm phá sản thường được hiểu: (1) là tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan Nhà nước (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên bố phá sản, hoặc (2) là thủ tục pháp lý liên quan đến một tổ chức kinh doanh để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức đó.
Altman (1968) nghiên cứu tại Mỹ cho rằng “các doanh nghiệp phá sản khi không giải quyết được nghĩa vụ nợ và nộp đơn xin phá sản”. (1996) trong nghiên cứu Sự thất bại của ngân hàng, rủi ro hệ thống và các điều tiết về ngân hàng đã định nghĩa “một ngân hàng không thành công về mặt kinh tế khi giá trị thị trường của tài sản giảm xuống dưới giá trị thị trường của nợ phải trả, do đó giá trị thị trường của vốn (giá trị ròng) trở nên âm. Vào thời điểm đó, ngân hàng không thể mong đợi trả hết tiền cho người gửi tiền đầy đủ và đúng thời hạn” Theo Business dictionary, phá sản ngân hàng xảy ra khi ngân hàng mất khả năng thanh toán và không thể đáp ứng các nghĩa vụ tín dụng của nó, và buộc phải đóng cửa bởi các cơ quan quản lý. Điều này thường xảy ra khi ngân hàng có các khoản nợ quá lớn và không có khả năng thanh toán bằng các nguồn vốn có sẵn và không còn các khoản tiền cần thiết để duy trì dòng tiền mặt ổn định.
Phạm Tiến Đạt (2013) khi đánh giá rủi ro trong NHTM nhằm phục vụ cho hoạt động kiểm toán BCTC đã cho rằng “Rủi ro vỡ nợ là rủi ro khi ngân hàng không đủ VCSH để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản do hậu quả của các loại rủi ro khác, thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô, do sự suy thoái của nền kinh tế, tỷ trọng huy động tiền gửi nhỏ, chủ yếu dựa vào các khoản vay, sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay của các khách hàng”. Có thể thấy định nghĩa này đã chỉ ra dấu hiệu cụ thể để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng, đó là giá trị tài sản suy giảm dẫn đến VCSH không đủ bù đắp. Nguyên nhân do: (i) hậu quả của các loại rủi ro khác trong ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất,….hoặc (ii) do quản lý yếu kém, hoặc (iii) suy thoái kinh tế. Shelagh Heffernan (2005) cho rằng “Khả năng phá sản của các doanh nghiệp xảy ra khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khi nợ phải trả vượt quá tài sản hoặc tài sản ròng âm” 11 Tuy nhiên quan điểm trên cần phải được xem xét cẩn thận khi áp dụng cho NHTM vì các NHTM có những đặc điểm đặc thù, khác biệt trong hoạt động kinh doanh của mình so với các tổ chức khác trong nền kinh tế.
Các điểm khác biệt có thể kể đến đó là: NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ, đây là lĩnh vực đặc biệt, nhạy cảm và tác động trực tiếp đến mọi hoạt động trong nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, một khi lòng tin của khách hàng đối với NHTM suy giảm thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc huy động vốn, cung cấp tín dụng và các dịch vụ khác. Hoạt động kinh doanh của các NHTM có thể xuất hiện nhiều rủi ro và chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau. Khi một ngân hàng mất khả năng thanh toán thì sẽ tạo ra tác động lan truyền đến các NHTM khác.
Chính vì thế Chính phủ luôn kiểm soát chặt chẽ hoạt động của ngân hàng nhằm ổn định hệ thống tiền tệ và hạn chế nguy cơ khủng hoảng xảy ra đến toàn bộ nền kinh tế. Với những sự khác biệt trên, nên khi xét riêng về lĩnh vực ngân hàng. Logan (2001) và Shelagh Heffernan (2005) đều có chung quan điểm và đưa ra khái niệm về rủi ro mất khả năng thanh toán của NHTM đó là: “Khi ngân hàng mất khả năng thanh khoản, bị sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một ngân hàng lớn khỏe mạnh, được sự kiểm soát của chính phủ hoặc ngân hàng đó phải nhận sự cứu trợ từ ngân hàng trung ương”. (2002), “rủi ro mất khả năng thanh toán là rủi ro không thể trang trải các khoản lỗ, được tạo ra bởi tất cả các loại rủi ro, bằng số vốn khả dụng.