Chương 1: Giới thiệu luận văn thạc sĩ Chương 2: Cơ sở lý thuyết và kết quả các công trình nghiên cứu trước Chương 3: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại VCB Chương 4: Khảo sát, kiểm định mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương VN Chương 5: Giải pháp vận dụng các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương VN 123doc 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Dịch vụ thẻ 2. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ thẻ ngân hàng 2. Khái niệm dịch vụ thẻ Dịch vụ thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do NHPHT cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa NHPHT và chủ thẻ.
Cơ sở chấp nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua NHTTT và NHPHT (Lê Văn Tề, 1999). Đặc điểm dịch vụ thẻ Trong số các sản phẩm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ, dịch vụ thẻ ngân hàng mang những đặc điểm riêng nhất định: - Hoạt động thẻ ngân hàng là sự phát triển cao của hoạt động ngân hàng, là kết quả của sự phát triển khoa học và công nghệ (đặc biệt là điện tử, tin học viễn thông) với quá trình tự do hoá và toàn cầu hoá của các hoạt động dịch vụ tài chính- ngân hàng và đặc biệt là sự phát triển mạng lưới toàn cầu của các ngân hàng và sự liên kết giữa các ngân hàng thành một khối thống nhất trên cơ sở một trung tâm thanh toán bù trừ. - Hoạt động thẻ ngân hàng mang lại nhiều tiện ích không chỉ đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng mà còn với những chủ sử dụng thẻ. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích, dịch vụ thẻ là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro và tổn thất.
- Cùng với các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác như: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, Internet banking, E-banking, Home banking, Phone banking., thẻ ngân hàng góp phần làm giảm tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong các giao dịch kinh tế. - Dịch vụ thẻ ngân hàng đòi hỏi một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm xử lý để đảm bảo thông suốt và an toàn trong hoạt động thẻ và đáp ứng yêu cầu của các TCTQT. 123doc 5 - Không giống như các sản phẩm, dịch vụ khác, loại hình dịch vụ thẻ ngân hàng mang tính đồng nhất cao, sự khác biệt hoá sản phẩm hầu như không có. Do vậy, để thắng lợi trong cạnh tranh các ngân hàng thường tập trung vào các hoạt động liên quan đến việc marketing sản phẩm, dịch vụ sau bán hàng.
hơn là tập trung nghiên cứu tạo ra sự khác biệt về đặc tính giữa các sản phẩm. Vai trò và lợi ích của dịch vụ thẻ ngân hàng Đối với chủ thẻ - Khách hàng có thể sử dụng thẻ để rút tiền mặt hoặc tiến hành các giao dịch (chuyển khoản, sao kê tài khoản…) ở các máy rút tiền tự động mà không cần phải trực tiếp đến Ngân hàng. Khách hàng sử dụng các tiện ích gia tăng của thẻ như thanh toán hóa đơn tiền điện, mua các loại thẻ viễn thông trả trước, dịch vụ Mobile Banking. - Thẻ thanh toán được xem là một chiếc ví tiền điện tử, khách hàng không cần phải mang tiền mặt nhiều khi đi du lịch, mua sắm,… chỉ với chiếc thẻ thanh toán, khách hàng có thể thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ ở các cửa hàng trong nước cũng như quốc tế.
(Lê Văn Tề, 1999) - Trong việc chi trả lương cho công nhân, việc trả lương qua thẻ sẽ giúp giảm chi phí bao thư, giảm chi phí cho người trả lương, giúp công nhân giữ tiền an toàn và chuyển tiền về cho người thân thông qua chuyển khoản với chi phí thấp hơn. Đối với Ngân hàng - Việc phát triển dịch vụ thẻ giúp các NHPHT và NHTTT tiết kiệm được thời gian trong việc phục vụ khách hàng đến rút tiền, giảm số lượng nhân viên giao dịch. - Huy động lượng vốn lớn từ các chủ thẻ. - Có thêm nguồn thu nhập từ phí dịch vụ thẻ.
Đối với các đơn vị chấp nhận thẻ - Tiết kiệm thời gian trong việc kiểm, đếm tiền, tăng tốc độ thanh toán cho khách hàng, tạo lợi thế cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. - Tiết kiệm được chi phí bảo quản, cất giữ tiền mặt. - Được cung cấp và hướng dẫn sử dụng miễn phí các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động thanh toán bằng thẻ. 123doc 6 - Được hưởng các lợi ích khác do Ngân hàng cung cấp.
Đối với nền kinh tế - Tiết kiệm chi phí xã hội: Thanh toán bằng thẻ sẽ giúp giảm bớt một lượng lớn tiền mặt trong lưu thông, từ đó, giảm chi phí in ấn, phát hành, vận chuyển tiền mặt, tiêu huỷ tiền cũ rách và nạn tiền giả… - Đẩy nhanh tốc độ thanh toán, góp phần giúp nền kinh tế phát triển. - Việc thanh toán bằng thẻ thanh toán rất an toàn, chính xác và tiết kiệm thời gian, tạo lập niềm tin của người dân vào hoạt động của Ngân hàng, là tiền đề cho việc tính toán lượng cung ứng tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả hơn. - Tạo điều kiện để Ngân hàng huy động vốn, bổ sung vốn cho Ngân hàng. - Tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng phát triển song vẫn hạn chế được rủi ro.
- Hạn chế các hoạt động kinh tế ngầm, giảm thiểu tiêu cực, quản lý được thu nhập cá nhân, thuế thu nhập, tăng cường tính chủ đạo của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong phát hành và thanh toán thẻ sẽ tạo điều kiện cho việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới. Khái niệm Tại khoản 5 điều 2 thuộc Quy chế phát hành, thanh toán sử dụng và cung cấp dịc vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng, được ban hành theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15 tháng 05 năm 2007 của Thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam, thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng được cấp theo thoả thuận với tổ chức phát hành thẻ. Theo đó, chủ thẻ được chi tiêu trong hạn mức đã cho mà không phải trả lãi nếu họ hoàn trả hết số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn theo sao kê.
Nếu không thanh toán hết nợ thì chủ thẻ sẽ phải trả lãi theo mức lãi suất qui định tuỳ theo ngân hàng phát hành. Ngoài ra chủ thẻ tín dụng còn dược hưởng một số dịch vụ ưu đãi tăng thêm tùy mỗi NHPHT như được cấp hạn mức vay tiêu dùng, hưởng ưu đãi phí… 123doc 7 2. Đặc điểm Thẻ được sản xuất với kỹ thuật cao, công nghệ hiện đại. Hầu hết thẻ đều được chế tạo bằng nhựa cứng (plastAF), có cấu tạo ba lớp, được ép kỹ thuật cao.
Lõi thẻ là lớp nhựa trắng cứng nằm giữa hai lớp tráng mỏng. Thẻ có hình chữ nhật, chung một kích cỡ 96mm*54mm*0.76mm, có góc tròn gồm hai mặt: Mặt trước của thẻ bao gồm: + Các huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ, tên như Visa, Master Card, American Express, JCB, Dinners Club. + Biểu tượng của thẻ: Biểu tượng của Visa là hình con chim bồ câu đang bay trong không gian ba chiều, biểu tượng JCB là chữ JCB được lồng trong ba đường gạch song song liền nhau với màu sắc khác nhau.tên và biểu tượng của thẻ là yếu tố cho biết ngân hàng phát hành. Biểu tượng này do ngân hàng phát hành thiết kế và in lên bề mặt thẻ.
Đây cũng là yếu tố bảo hiểm của thẻ. + Số thẻ: được dập nổi trên thẻ và là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ. Số này sẽ được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ đi mua hàng. Số thẻ là số tài khoản + Ngày hiệu lực của thẻ được in nổi: đây là thời hạn mà thẻ được lưu hành, ngoài thời hạn đó thẻ không có giá trị.
Ngày hiệu lực chỉ ghi tháng và năm + Họ tên của chủ thẻ được in nổi. + Tên, biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ + Các đặc điểm tăng tính an toàn, chống giả mạo của thẻ: chữ ký, hình của chủ thẻ, hình in nổi không gian ba chiều. Mặt sau của thẻ bao gồm: + Dải băng màu đen hoặc sẫm, có khả năng lưu trữ (mã hoá) các thông tin như số thẻ, tên chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành thẻ, ngày hiệu lực, mã số cá nhân Pin. Dãy băng từ chạy song song với mép bên trên của thẻ, được cấu tạo 2 và 3 rãnh, những rãnh này sẽ được đọc bởi những thiết bị chuyên dụng như máy POS, Veriphone.
Rãnh thứ 3 dùng riêng cho máy ATM khi khách hàng rút tiền mặt thông qua số Pin 123doc 8 + Dưới dải băng từ là băng chữ ký, trên đó là chữ ký của chủ thẻ. Đây được coi là chữ ký mẫu của chủ thẻ và nó là cơ sở để các ĐVCNT đối chiếu, so sánh với chữ ký trên hoá đơn khi lập các hoá đơn thanh toán. Băng chữ ký được làm từ nguyên liệu đặc biệt có thể ngăn cản mọi sự tẩy xoá, sửa đổi trên bề mặt của nó và được ép chặt trên nền thẻ, không dùng tay cậy lên được. + Số thẻ có thể được in lại.
Đó là một dòng gồm 19 chữ số in nghiêng, 16 số đầu là số thẻ, 3 số sau là số mã hoá của thẻ (cùng nằm trong ô chữ ký). Chủ thể tham gia trên thị trường thẻ Tham gia trong quá trình phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ tín dụng quốc tế (hay thẻ thanh toán quốc tế nói chung) bao gồm các thành viên sau: - Chủ thẻ: Là người có tên in nổi trên thẻ, là người duy nhất được quyền sử dụng thẻ của mình. Chủ thẻ là người được ngân hàng phát hành sau khi xem xét xử lý hồ sơ, sẽ phát hành thẻ cho để sử dụng. Chủ thẻ là cá nhân (hoặc là người được uỷ quyền sử dụng nếu là thẻ của công ty) được ngân hàng phát hành thẻ cho phép sử dụng trong phạm vi hạn mức tín dụng tuần hoàn được cấp (đối với thẻ tín dụng).