Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng Dịch vụ là một khái niệm phổ biến nên có rất nhiều cách định nghĩa về dịch !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! ! vụ như: Zeithaml & Bitner (2000) cho rằng dịch vụ là những hành vi, quá trình, ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng; Kotler & Armstrong ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! (2001) cho rằng dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và ! ! ! ! ! ! ! ! ! !! ! ! ! ! ! ! !! ! ! ! ! ! ! ! ! !! ! ! ! ! ! hợp tác lâu dài với khách hàng. ! !! !! !! !! !! !! Dịch vụ ngân hàng nói chung có vai trò rất quan trọng quyết định sự thịnh ! ! ! ! !! ! ! !! ! ! ! ! ! ! !! ! ! !! ! ! ! ! ! ! !! ! vượng của ngân hàng trong giai đoạn khó khăn, là nhân tố mang lại lợi nhuận ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! ! không nhỏ cho các ngân hàng trong giai đoạn hiện nay. ! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! Tóm lại, có thể hiểu khái quát về dịch vụ ngân hàng như sau: “dịch vụ ngân !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! !! ! hàng bao gồm tất cả các dịch vụ được ngân hàng cung cấp cho khách hàng”.2 Khái niệm và nguyên nhân phàn nàn 1.1 Khái niệm phàn nàn Phàn nàn là lĩnh vực nghiên cứu về việc xác định và phân tích tất cả các khía cạnh có liên quan đến phản ứng của khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ và đã được quan tâm từ giữa những năm 1960. Ban đầu, hành vi phàn nàn được định nghĩa là một hành động được thực hiện bởi một cá nhân liên quan đến việc truyền thông một cái gì đó tiêu cực về một sản phẩm, dịch vụ, hoạt động sản xuất, hoặc hoạt động kinh doanh của công ty với bên thứ ba (Jacoby & Jaccard, 1981).
Đến thập niên 90, khái niệm về hành vi phàn nàn có sự bổ sung khi phần lớn các khái niệm đều đề xuất thêm nguồn gốc hành vi phàn nàn, và cho rằng hành vi phàn nàn có thể xuất hiện trong cả quá trình từ khi tìm kiếm, mua, và sử dụng sản 7 phẩm, chứ không phải chỉ là hành vi sau tiêu dùng như trước đây. Singh & Widing (1991) cho rằng hành vi phàn nàn của người tiêu dùng là một tập hợp của tất cả các cảm giác không hài lòng trong quá trình tiêu thụ hoặc sở hữu hàng hóa/ dịch vụ. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng hành vi phàn nàn của người tiêu dùng không phải là một phản ứng ngay lập tức mà là một quá trình, và không phụ thuộc trực tiếp vào các yếu tố ban đầu mà phụ thuộc vào sự đánh giá tình hình của người tiêu dùng theo thời gian. Theo Crie (2003) hành vi phàn nàn là bất kỳ hành động nào được kích hoạt bởi sự bất mãn đối với chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ.
Hành vi phàn nàn của khách hàng là một tập hợp của tất cả các phản ứng không hài lòng xung quanh quá trình, trong khi tiêu thụ hoặc trong quá trình sở hữu của hàng hóa, dịch vụ. Nếu như khái niệm của Jacoby & Jaccard (1981) chủ yếu đề cập đến biểu hiện hành vi phàn nàn của khách hàng thì khái niệm của Crie (2003) cho thấy một cách nhìn nhận toàn diện hơn khi đề cập đến nguồn gốc của hành vi phàn nàn là sự bất mãn trong quá trình mua và sử dụng sản phẩm. Nhiều học giả cho rằng phàn nàn là sự truyền thông (giao tiếp) trực tiếp từ các cá nhân đến công ty về sự không hài lòng. Theo Homburg & Fürst (2005), hành vi phàn nàn của khách hàng được xem như là những phản ứng được kích hoạt bởi sự không hài lòng, nó thuộc về tâm lý không dễ dàng chấp nhận cũng không nhanh chóng bị lãng quên trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.
McQuilken & Robertson (2011) định nghĩa hành vi phàn nàn là một tập hợp đa phản hồi, một trong số chúng được bắt nguồn từ sự không hài lòng. Như vậy, có thể thấy hành vi phàn nàn có thể phát sinh như là kết quả của việc kỳ vọng chưa được đáp ứng, hoặc một số lời hứa chưa được thực hiện bởi các nhà sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. Khách hàng có thể phàn nàn về một số thuộc tính của một sản phẩm hoặc mức độ của chất lượng dịch vụ được coi là không thỏa mãn. Phàn nàn cũng có thể được nhìn nhận là hệ quả của sự không hài lòng đối với việc mua, sở hữu hoặc tiêu thụ một sản phẩm/dịch vụ.2 Nguyên nhân dẫn đến phàn nàn 8 Sự không hài lòng được xem là nguỵên nhân đầu tiên dẫn đến phàn nàn (Landon; 1980) trong khi đó cường độ của sự không hài lòng được xem là đóng vai trò thứ hai dẫn đến phàn nàn (Oliver.
Tuy nhiên, sự không hài lòng không đủ để dẫn đến phàn nàn và hành vi phàn nàn khách hàng không phải là phép cộng giản đơn của lý thuyết mô hình hài lòng và không hài lòng của khách hàng (Bearđen and Teel, 1983). Day (1984) nhấn mạnh rằng “phàn nàn là sự tiếp theo sau có logic của việc không hài lòng, là một tập hợp các hành động riêng biệt bị ảnh hường bởi các cá nhân và các nhân tố tình huống xuất hiện không liên quan đến cường độ không hài lòng”. Hành vi phàn nàn của khách hàng là hiện tượng đa chiều và cực kỳ phức tạp, nó phủ nhận sự đơn giản quá mức của nhiều nghiên cứu trước đây (Singh and Hơvvell, 1985). Hirschman (1970), khi khách hàng quyết định phàn nàn, họ phải trải qua hai quá trình cảm nhậc riêng biệt: (1) Họ phải xem xét giá trị đánh đổi giữa chi phí bỏ ra vả lợi ích có được từ phàn nàn.
Lợi ích và chi phi không chỉ là về mặt kinh tế mà còn về tâm lý. Khi lợi ích nhận được không đủ lớn để dẫn đến hành vi phàn nàn thì họ sẽ không phàn nàn mặc dù họ tồn tại sự không hài lòng. Ngược lại, sự không hài lòng rất thấp nhưng khách hàng vẫn quyết định phàn nàn khi họ cho rằng lợi ích nhận được lớn hơn chi phí họ bỏ ra. (2) Họ đánh giá hành động phàn nàn vì họ cho rằng sẽ nhận được giải pháp mang tính tích cực.
Thứ nhất, phàn nàn không phải là một hành động không tốn chi phí. đây là yếu tố rát quan trọng, khách hàng phải trải qua các yếu tố về tàm lý bao gồm sự lúng túng, sự e ngại, sự đối chất,. Thứ hai, khi khách hàng không hài lòng họ sẽ ước lượng kết quả giải quyết phàn nàn của mình dựa trên “danh tiếng”, sự phản hồi của công ty để cân nhắc việc có nên phàn nàn hay không (Day and Landon, 1977). 9 Như vậy, trước khi phàn nàn khách hàng phải tìm kiếm, cân nhắc và kết hợp rất nhiều yếu tố có liên quan để đi đến ý định hành vi; thường thì khách hàng hy vọng từ các giải pháp tích cực hữu hình một cách cụ thể như: hoàn tiền, đổi sản phẩm khác, sửa chữa lại sản phẩm hỏng; các giải pháp đền bù về mặt tinh thần: lời xin lỗi, lợi ích xã hội, ngăn ngừa tinh trạng tương tự xảy ra đối với khách hàng khác (Landon, 1977).
Tuy nhiên, trong trường hợp khách hàng phàn nàn chỉ vì một một tiêu duy nhất là trút giận và giải tỏa căng thẳng (stress), họ không cần bất kỳ phản ứng nào từ phía nhà cung cấp. Hay nói cách khác, những phản ứng của nhà cung cấp không mang nhiều ý nghĩa trong trường hợp này. Nghiên cứu này cùng cho rẳng có 20% khách hàng gặp vấn đề khi mua sản phẩm, dịch vụ phàn nàn trực tiếp với người bán hàng, và 60% thời gian quá trình mua hàng họ cảm thấy hài lòng. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng những yếu tố có liên quan đến hành vi phàn nàn của khách hàng cũng rất khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực.1 Phản ứng của khách hàng khi không hài lòng về sản phẩm/ dịch vụ (Nguồn: Day và Landon, 1977) 10 Một chuỗi các nghiên cứu (Duhaime & Ash, 1979; Singh- 1989; Tipper, 1997; Ursic, 1985) về hành vi phàn nàn khách hàng có thể xảy ra khi: (1) Công tỵ không có ý định khắc phục các vấn đề; (2) Đánh giá tốt về hệ thống pháp lý và các cơ quan thực thi nhiệm vụ; (3) Tin rằng các hình thức phàn nàn khác không khả thi (không thành công); (4) Có trải nghiệm mức độ lo lắng cao về tinh hình phàn nàn; (5) Có thái độ tiêu cực đối với doanh nghiệp.
Landon (1980); Oliver (1987): Prakash (1991) cho rằng sự không hài lòng được xem là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến phàn nàn, trong khi đó cường độ của sự không hài lòng được xem là đóng vai trò thứ hai dẫn đến phàn nàn. Tuy nhiên, sự không hài lòng không đủ để dẫn đến phàn nàn và hành vi phàn nàn khách hàng không phải là phép cộng giản đơn của lý thuyết mô hình hài lòng và không hài lòng của khách hàng. Bearden and Teel, (1983); Day (1984) “phàn nàn là sự tiếp theo sau có logic của việc không hài lòng, là một tập hợp các hành động riêng biệt bị ảnh hưởng bởi các cá nhân và các nhân tố tình huống xuất hiện không liên quan đến cường độ không hài lòng”. Hành vi phàn nàn của khách hàng là hiện tượng đa chiều và cực kỳ không hài lòng.