chương 1, tác giả đã giới thiệu khái quát chung về đề tài nghiên cứu “ Yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam”. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÊN THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG 2.1 Cơ sở lý thuyết về thanh khoản của ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm thanh khoản Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel ban hành tháng 9/2008 thì “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng (NH) vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”. Nói cách khác: Thanh khoản là khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Theo Basell II (2008, trang 23) “Thanh khoản đại diện cho khả năng ngân hàng có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn (đến mức tối đa) và bằng đơn vị tiền tệ được quy định.
Do thực hiện bằng tiền nên thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản”. Theo Trương Quang Thông (2010), một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi tài sản ấy thành tiền mặt thấp và thời gian chuyển đổi nhanh. Nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động vốn thấp cùng với thời gian huy động nhanh.
Theo Ủy ban basel định nghĩa “Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây ảnh hưởng đến tình hình tài chính”. Nói cách khác, “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao”.2 Cung – cầu và trạng thái thanh khoản của ngân hàng 2.1 Cung thanh khoảncủa ngân hàng - Các khoản tiền gửi sẽ nhận được (S1) - Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ (S2) - Các khoản tín dụng sẽ thu về (S3) - Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4) - Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5) 2.2 Cầu thanh khoản của ngân hàng Cầu về thanh khoản phản anh nhu cầu rút tiền khỏi ngân hàng ở những thời điểm khác nhau. Những hoạt động sau đây tạo ra nhu cầu về thanh khoản: - Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1) - Đề nghị vay vốn của khách hàng (D2) - Thanh toán các khoản phải trả khác (D3) - Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng (D4) - Thanh toán cổ tức cho cổ đông (D5) 2.3 Đánh giá trạng thái thanh khoản (Net Liquidity Position) Trạng thái thanh khoản ròng là chênh lệch giữa tổng cung và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm.Ở bất cứ thời điểm nào, các nguồn cung và nhu cầu thanh khoản đến cùng lúc và tạo thành trạng thái thanh khoản ròng và có thể được tính như sau: NLPt = (S1+S2+S3+S4+S5) - (D1+D2+D3+D4+D5) Hai trường hợp có thể xảy ra: - NLPt > 0: thừa tiển dự trữ không sinh lời. - NLPt < 0: tình trạng thâm hụt thanh khoản - NLPt =0 : Tình trạng cân bằng thanh khoản.
Tuy nhiên đây là tình trạng khó xảy ra trong thực tế 2.2 Các chỉ số đo lường thanh khoản tại NHTM: 9 Theo nghiên cứu của các tác giả như Yeager, Seitz (1989) ; Hemple, Simonson (2008); Fielding, Shortland (2005); Lucchetta (2007); Moore (2010) thì để đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng có rất nhiều phương pháp để đo lường như : Chỉ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản là một trong những chỉ số tài chính của quỹ tiền tệ quốc tế được nhiều nước áp dụng , đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng, cho biết khả năng ngân hàng đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt theo ước tính và bất thường của khách hàng. Theo nguyên tắc tổng tài sản thanh khoản trong tổng tài sản càng cao thì khả năng thanh khoản ngân hàng cao. Tuy nhiên, giá trị của tỷ số này quá cao cũng có thể được hiểu là không hiệu quả. Vì tài sản có tính thanh khoản thấp thì chi phí cơ hội cho ngân hàng cao.
Do đó cần phải tối ưu hóa mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận. Tỷ lệ này là thước đo đối với ngân hàng nhằm đối phó với nhu cầu cao về thanh khoản trong ngắn hạn. Một tỷ lệ cao có nghĩa là ngân hàng có tính thanh khoản trong ngắn hạn. Tỷ lệ thanh khoản L3 sử dụng tài sản thanh khoản để đo lường khả năng thanh khoản là rất tốt.
Tuy nhiên tỷ lệ này tập trung vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng khi lựa chọn các loại hình tài trợ (bao gồm tiền gửi của các hộ gia đình, doanh nghiệp, tổ chức tài chính khác). Tỷ số này cũng giống L1 , tức tỷ số này cao cũng 10 thể hiện thanh khoản của ngân hàng tốt. Giá trị thấp cho thấy sự nhạy cảm của ngân hàng liên quan đên việc rút tiền gửi. Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm khoản cho vay trên tổng tài sản ngân hàng.
Do đó, tỷ lệ này cao tức là khả năng thanh khoản của ngân hàng càng yếu. Tỷ số này cho thấy mối quan hệ của tài sản không có tính thanh khoản và nợ phải trả. Khi tỷ lệ này cao, có nghĩa là ngân hàng ít chất lỏng hơn. Tỷ số này cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng yếu.
Tỷ số này nhằm đo lường rủi ro thanh khoản. Được xác định là chênh lệch giữa số tiền cho vay của ngân hàng và tiền gửi tại ngân hàng, chênh lệch này chia cho tổng tài sản để làm tiêu chuẩn và là tỷ lệ đo lường chênh lệch tài chính trên tổng tài sản(FGAPR).3 Yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản cuả NHTM 2.1 Yếu tố bên trong ngân hàng ảnh hưởng đến thanh khoản 2.1 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (capital on total asset-CAP) 11 Chỉ tiêu này phản ánh tình trạng vốn của ngân hàng. Khi có ảnh hưởng xấu về thanh khoản ngân hàng có khả năng đảm bảo ngân hàng vẫn đủ vốn và an toàn hay không. Mức vốn chủ sở hữu càng cao, thì các ngân hàng sẽ có lượng vốn cần thiết để đảm bảo tiêu chuẩn về vốn điều lệ, bên cạnh đó sẽ có một khoản vốn đủ để cung cấp các khoản vay.
Ngược lại chỉ số này thấp chứng tỏ ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính cao, điều này gây ra nhều rủi ro cho ngân hàng. Biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu/ tài sản được lấy từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam.2 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu phản ánh hiệu quả quản trị của ngân hàng trong việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu. Tác giả muốn đánh giá hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại Việt Nam, bên cạnh đó xem xét ảnh hưởng của tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đến thanh khoản tại ngân hàng thương mại Việt Nam. Biến tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu được lấy từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam.4 Quy mô ngân hàng (SIZE) Quy mô ngân hàng được tính như sau: SIZE= LN (tổng tài sản) Quy mô ngân hàng phản ánh sự giàu có của ngân hàng thông qua các tài sản ngân hàng nắm giữ.
Trong bài nghiên cứu biến quy mô ngân hàng được đo lường bằng Logarit tự nhiên của tổng tài sản. 12 Theo các nghiên cứu trước đây biến quy mô ngân hàng có ảnh hưởng không nhỏ đến thanh khoản của ngân hàng. Những ngân hàng có quy mô lớn thường có tỷ lệ nợ cao, nợ ngắn hạn sẽ thấp, nợ dài hạn cao. Bên cạnh đó, với quy mô lớn, các ngân hàng có tiềm lực mạnh hơn về tài chính và về nhân lực nên có khả năng đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, đa dạng việc cung cấp sản phẩm tín dụng và phi tín dụng.
Các ngân hàng này có dòng tiền ổn định, chính vì vậy khả năng thanh khoản sẽ lớn. Trong đó giá trị tổng tài sản được tác giả thu thập trên các báo cáo tài chính của ngân hàng.2 Yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến thanh khoản cuả NHTM 2.1Tỷ lệ thất nghiệp (UNE) Tỷ lệ thất nghiệp là chỉ tiêu biểu hiện tỷ lệ so sánh số người thất nghiệp với lượng lao động (tổng dân số hoạt động kinh tế) trong kỳ. Khi thất nghiệp gia tăng gây ra sự suy giảm trong tiêu dùng từ đó giảm khả năng tạo ra tiền mặt. kho tỷ lệ thất nghiệp tăng cao sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Số liệu về tỷ lệ thất nghiệp được tác giả thu thập tại wesite tổng cục thống kê Việt Nam.2 Tăng trưởng kinh tế (GDP) Tăng trưởng kinh tế là giá trị thị trường của tổng cộng tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nền kinh tế qua một giai đoạn nhất định, là chỉ tiêu trong hệ thống tài khoản quốc gia. Tăng trưởng GDP chính là mức gia tăng GDP năm sau so với năm trước và đơn vị tính là phần trăm. 13 Có rất nhiều nghiên cứu cho rằng tăng trưởng GDP ảnh hưởng đến tỷ lệ thanh khoản của các ngân hàng. Tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Nền kinh tế tăng trưởng cao dẫn đến đầu tư và tiêu thụ cao hơn, tăng tín dụng và do đó làm tăng khả năng sinh lợi của ngân hàng. Biến tăng trưởng kinh tế được lấy từ website quỹ tiền tệ quốc tế 2.3 Tỷ lệ lạm phát (INF) Lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ. Lạm phát tăng cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, thì lãi suất cho vay cũng cao, điều này đã làm xấu đi về môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện.