phần mở đầu, tác giả đã trình bày tổng quan về nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và kết cấu của đề tài. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Lý thuyết về sự hài lòng 1.1 Khái niệm về nhân viên Trong hầu hết các nền kinh tế hiện đại, thuật ngữ nhân viên đề cập đến một mối quan hệ được xác định cụ thể giữa một cá nhân và một tổ chức. Nhân viên được hiểu là lao động trí thức đóng góp công sức và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người sử dụng lao động và thường được thuê với hợp đồng làm việc để thực hiện nhiệm vụ cụ thể được giới hạn cho một công việc hay chức năng (Gerrick von Hoyningen - Huene, 2002).2 Định nghĩa về sự hài lòng Một trong các định nghĩa đầu tiên về sự hài lòng trong công việc là định nghĩa của Robert Hoppock (1935, trích dẫn bởi Scott và đồng sự, 1960), ông cho rằng, việc đo lường sự hài lòng trong công việc có thể thực hiện theo hai cách là đo lường sự hài lòng chung trong công việc và đo lường sự hài lòng trong công việc ở các khía cạnh khác nhau đối với công việc. Và sự hài lòng chung trong công việc không phải đơn thuần là tổng hợp sự hài lòng của các khía cạnh khác nhau, mà sự hài lòng chung trong công việc có thể được xem như một biến riêng.
Theo Vroom (1964) cho rằng sự hài lòng trong công việc là thể hiện mức độ mà nhân viên có cảm nhận và định hướng tích cực đối với công việc trong tổ chức, họ thực sự cảm thấy thích thú với công việc. Theo Weiss (1967) cho rằng hài lòng trong công việc là thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động. Quinn và Staines (1979) thì cho rằng hài lòng trong công việc là phản ứng tích cực đối với công việc. Theo Kreitner và Kinicki (1992) thì sự hài lòng trong công việc chủ yếu phản ánh mức độ một cá nhân yêu thích công việc của mình.
Đó chính là tình cảm hay cảm xúc của người nhân viên đó đối với công việc của mình. 11 Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) thì định nghĩa sự hài lòng trong công việc là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm x c đối với các khía cạnh khác nhau trong công việc của nhân viên. Ông cho rằng các yếu tố của sự hài lòng trong công việc bao gồm vị trí công việc, sự giám sát của cấp trên, mối quan hệ với đồng nghiệp, nội dung công việc, sự đãi ngộ, và các phần thưởng như cơ hội thăng tiến, điều kiện vật chất của môi trường làm việc. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng trong công việc nhưng nhìn chung sự hài lòng trong công việc được hiểu theo 2 khía cạnh là sự hài lòng chung trong công việc và sự hài lòng có được khi nhân viên thể hiện phản ứng tích cực đối với công việc của mình.
Như vậy, sự hài lòng trong công việc của nhân viên chính là việc đáp ứng những nhu cầu và nguyện vọng của nhân viên trong quá trình làm việc và khi những nhu cầu và nguyện vọng này được giải quyết thỏa đáng thì sự hài lòng trong công việc của nhân viên sẽ được nâng cao.3 Ý nghĩa của việc mang lại sự hài lòng trong công việc của nhân viên Những bậc thầy chất lượng ở Mỹ như Deming (1986) và Juran (1989) đều thừa nhận việc gia tăng quá trình sở hữu và thỏa mãn công việc sẽ quay trở lại sinh lợi trong cả chất lượng và năng suất. Những chuyên gia chất lượng của Nhật cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của “nhân tố con người” trong việc tạo ra một môi trường cho sự sản xuất vượt trội và Ishikawa (1985) cho rằng những tổ chức chất lượng biểu thị đặc điểm qua việc ch ý đến lòng nhân đạo, giáo dục nguồn lực con người, quan tâm đến hạnh phúc của nhân viên và cung cấp những nơi làm việc vui vẻ. Ishikawa nhấn mạnh rằng kiểm soát chất lượng hiệu quả dựa vào sự hiểu biết của việc điều khiển con người. Từ đó cho thấy việc nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên trong công việc giúp nhà lãnh đạo nắm bắt được nhu cầu thực sự, những điều tạo ra sự hài lòng và những điều chưa hài lòng, những điều gây ra cảm giác bất mãn cho người lao động trong tổ chức.
Trên cơ sở đó, nhà lãnh đạo có thể cải thiện, sửa đổi, bổ sung chính sách nhân sự trong công ty trong khuôn khổ cho phép để tăng hiệu quả làm việc và tăng cuờng mức độ gắn bó của người lao động đối với tổ chức doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp 12 có một đội ngũ lao động chất lượng và bền vững. Khi chính sách nhân sự ngày càng được hoàn thiện và đáp ứng đ ng tâm tư nguyện vọng của người lao động sẽ là cơ hội tốt để doanh nghiệp thu hút và giữ chân người tài. Tổ chức doanh nghiệp có nguồn lực con người ổn định, chất lượng cao sẽ đảm bảo vị thế của doanh nghiệp trên thị trường đày biến động và tạo ra nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc tổ chức một cuộc điều tra về mức độ hài lòng của nhân viên sẽ là cơ hội để người lao động trong công ty có thể chia sẽ những thuận lợi và hó hăn, những tâm tư, nguyện vọng của bản thân trong quá trình làm việc tại công ty.
Qua đó, công ty có thể tiếp thu được những ý kiến đóng góp có giá trị của người lao động nhằm hoàn thiện chính sách nhân sự của tổ chức mình.4 Thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Theo thuyết cấp bậc nhu cầu của Abraham Maslow thì hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao về tầm quan trọng. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: - Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của cơ thể khác. - Nhu cầu về an toàn và an ninh là các nhu cầu phát sinh sau hi con người có được nhu cầu cơ bản như an toàn, hông bị đe doạ, an ninh, chuẩn mực, luật lệ. - Nhu cầu xã hội là các nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, xã hội.
Nói chung là các nhu cầu quan hệ giữa người với người, giữa con người với tổ chức, với tự nhiên. Cấp độ này cho thấy con người luôn có nhu cầu giao tiếp để phát triển. - Nhu cầu tự trọng là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người hác, được người hác tôn trọng. Đây là mong muốn của con người nhận được sự quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh.
13 - Nhu cầu tự hoàn thiện là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước. Đây là hát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ hi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. 2 Tháp nhu cầu của Maslow Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp.
Các nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh lý và an toàn, an ninh. Các nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã họ i, đu ợc tôn trọng và tự hoàn thi n. Maslow cho rằng việc thoả mãn các nhu cầu ở cấp thấp sẽ dễ hơn so với việc làm thoả mãn các nhu cầu ở cấp cao vì các nhu cầu cấp thấp là có giới hạn và có thể được thoả mãn từ bên ngoài. Ông cho rằng đầu tiên các nhu cầu ở cấp thấp nhất hoạt động, nó đòi hỏi được thoả mãn và như vậy nó là động lực th c đẩy con người hành động - nó là nhân tố động viên.
Khi các nhu cầu này được thoả mãn thì nó không còn là yếu tố động viên nữa và l c đó các nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện. Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một hàm ý đối với các nhà quản trị đó là muốn động viên người lao động thì điều quan trọng là phải hiểu người lao động của mình đang ở cấp độ nhu cầu nào. Từ đó, cho phép nhà quản trị đề ra giải pháp phù hợp cho việc thoả mãn nhu cầu của người lao động đồng thời bảo đảm đạt được mục tiêu tổ chức. Đây là một trong những lý thuyết về động lực làm việc được nhắc đến nhiều nhất.
14 Maslow đã nhìn nhận các nhu cầu của con người theo hình thái phân cấp, sắp xếp theo thứ tự tăng dần từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất và kết luận rằng khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn tạo động lực nữa. Các cá nhân có thể chuyển lên thang bậc nhu cầu cao hơn nếu các nhu cầu ở bậc thấp đã được thỏa mãn một cách cơ bản và việc chuyển giữa các thang bậc nhu cầu phải theo đ ng trình tự phân cấp. Theo Maslow khi xây dựng và thực hiện các chính sách nhân sự, người quản trị cần quan tâm tìm hiểu nhu cầu của nhân viên nhằm tạo động lực th c đẩy nhân viên làm hết khả năng của mình. Trên thực tế, các nhu cầu không phải l c nào cũng xuất hiện theo thứ bậc mà Maslow đã đưa ra mà tùy thuộc vào nhiều yếu tố cá nhân và hoàn cảnh.
Các nhiên cứu đã chỉ ra rằng nhu cầu con người còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố hác như: giai đoạn nghề nghiệp, quy mô của tổ chức và vị trí địa lý, văn hóa,… Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng. Và tháp nhu cầu này cho thấy sự thể hiện tính cá nhân của con người được đề cao theo cách sống của người phương tây. Mô hình này được coi là đại diện cho nhu cầu của thế giới phương Tây, tuy vậy có thể nói là sẽ khó thành công khi áp dụng máy móc vào các nước phương Đông.