phần mở đầu, tác giả giới thiệu tổng quát về sơ sở hình thành đề tài, tiếp theo là xác định được mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề cương. Sau đó là ý nghĩa của việc nghiên cứu và kết cấu đề cương. Đây là phần khái quát đến những nội dung liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đồng thời xác định được đề tài nghiên cứu là: “Những yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ tín dụng vi mô tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo - Chi nhánh Bình Thuận”. Phần này làm tiền đề để thực hiện việc nghiên cứu ở các phần tiếp theo.
15 CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Tổng quan về dịch vụ tín dụng vi mô trong các tổ chức tài chính vi mô 2.1 Khái niệm, mục tiêu, vai trò của tài chính vi mô 2.1 Khái niệm Ngày nay, hầu hết các quốc gia nhất là các quốc gia đang phát triển và các tổ chức quốc tế đang ngày càng quan tâm tới phát triển các dịch vụ tài chính và các dịch vụ hỗ trợ nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của người nghèo với mục đích cải thiện thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho họ. Qua đó, khái niệm về TCVM cũng được rất nhiều tổ chức và các nhà khoa học đưa ra dưới các giác độ khác nhau, điển hình như: Theo Muhammad Yunus (2005), “TCVM được phát triển dựa trên tiền đề rằng người nghèo có những kỹ năng mà chưa được sử dụng hoặc chưa được sử dụng đúng mức vì họ chưa được trao quyền để phát huy chúng. Giải phóng năng lượng và sự sáng tạo trong mỗi con người là lời giải cho bài toán đói nghèo”. Trên quan điểm của Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo CGAP: “TCVM là việc cung cấp tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm vi mô, dịch vụ chuyển tiền và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp bởi một cơ chế thích hợp, giúp cho họ có thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp tăng thêm thu nhập cải thiện chất lượng cuộc sống” (CGAP, 2003).
Ledgerwood (2013), “TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế thông qua các dịch vụ tài chính nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp.TCVM thường bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian xã hội”. Còn theo quan điểm của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB, 2000), “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển 16 tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ” Trong khi đó, dưới góc độ thể chế trong nước, theo Luật các Tổ chức tín dụng số 47 năm 2010 và Nghị định số 28/2005/NĐ-CP do Chính phủ ban hành, tài chính vi mô (quy mô nhỏ) “là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo”. Tổng hợp những khái niệm trên ta có thể hiểu TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các DVTC, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư. TCVM vừa là công cụ ngân hàng vừa là công cụ phát triển xã hội bằng việc cải thiện kinh tế, điều kiện sống cho các đối tượng vi mô.2 Vai trò của tài chính vi mô Đối với người nghèo, người có thu nhập thấp và các đối tượng yếu thế: đối với một nước đang phát triển như Việt Nam thì cần phải nhấn mạnh về vai trò của TCVM đối với người nghèo.
Đa số người nghèo Việt Nam sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp với năng suất lao động thấy và ít được tiếp cận với các dịch vụ tài chính và kiến thức. TCVM giúp họ có cơ hội được tiếp cận với nguồn vốn để tham gia các hoạt động sản xuất hoặc phát triển các phương án kinh doanh nhỏ, từ đó cải thiện kinh tế gia đình, tăng chất lượng cuộc sống, nâng cao địa vị trong xã hội và giảm khả năng bị tổn thương trước các tác động bên ngoài. Trong khi với các tổ chức khác, để có thể vay vốn, người vay phải thế chấp tài sản hoặc chứng minh thu nhập thì tổ chức tài chính vi mô cung cấp các sản phẩm vay đa dạng hơn, trong đó nhiều sản phẩm dành cho các đối tượng đặc biệt (hộ nghèo, hộ cận nghèo, nhóm phụ nữ khuyết tật, phụ nữ bị nhiễm HIV hoặc có chồng, con bị nhiễm HIV.) với thủ tục giải ngân đơn giản và thuận tiện cho người vay hơn. Mặc dù vốn vay của TCVM không lớn như ngân hàng thương mại hay ngân hàng chính sách nhưng lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi những khoản vay 17 này đến được với người nghèo và nghèo nhất vào đúng thời điểm cần thiết nhất, giúp họ khởi tạo sản xuất kinh doanh, tạo dựng tài sản và cải thiện điều kiện sống.
Đối với sự phát triển của nền kinh tế: tài chính vi mô tạo nguồn vốn hỗ trợ người nghèo, người yếu thế giúp họ có thêm công cụ và điều kiện phát triển thoát nghèo, qua đó làm tăng thêm thu nhập, cải thiện điều kiện sống của họ. Bên cạnh đó, không ít khách hàng của tài chính vi mô, sau khi tiếp cận được nguồn vốn vi mô đã thoát nghèo, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, cùng chia sẻ kinh nghiệm với người dân trong vùng, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Đối với sự phát triển xã hội: tài chính vi mô bên cạnh việc hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo thì qua đó cũng góp phần không nhỏ cho sự ổn định về xã hội. Tại các địa phương, khi một người thoát nghèo, phát triển sản xuất còn có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm cho người dân trong vùng, thậm chí mở rộng sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm.
Nhờ vậy góp phần xây dựng một cộng đồng phát triển lành mạnh, đoàn kết. Người nghèo, người yếu thế có thêm thu nhập, và điều kiện thoát nghèo cũng là một biện pháp đảm bảo công bằng xã hội và giúp người dân tránh khỏi những tệ nạn tiêu cực do nghèo đói gây ra và giúp đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Đối với tổ chức TCVM: các hoạt động tài chính vi mô là công cụ giúp các tổ chức TCVM đạt được sứ mệnh của mình trong công cuộc xóa đói giảm nghèo theo định hướng của Nhà nước, tiếp cận và cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho ngày càng nhiều người nghèo, thu nhập thấp và yếu thế, được người dân tin tưởng và ủng hộ. Đối với hội nhập quốc tế: trên thế giới có rất nhiều các tổ chức quốc tế đang ngày càng quan tâm hơn đến tài chính vi mô.
Việc phát triển tài chính vi mô cũng tạo ra những cơ hội cho các nước đang phát triển có điều kiện thu hút các tổ chức quốc tế tham gia. Điều này không chỉ góp phần thu hút nguồn vốn cho tài chính vi mô mà còn góp phần cho các quốc gia thực hiện được mục tiêu trong quá trình hội nhập và phát triển.2 Hoạt động tín dụng vi mô 2. Khái niệm hoạt động tín dụng vi mô 2.1 Tín dụng vi mô Lịch sử phát triển cho thấy, tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giai đoạn cao hơn.
Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Tín dụng tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra.
Tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn. Danh từ tín dụng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp như bán chịu hàng hóa, cho vay, bảo lãnh. Trong mỗi hành vi tín dụng như như trên, hai bên sẽ cam kết với nhau một số điều kiện: i. Một bên trao ngay số hàng hóa hay tiền bạc.
Bên kia cam kết sẽ hoàn lại những tài sản đó trong một thời gian nhất định và thực hiện một số điều kiện nhất định nào đó mà hai bên đã thỏa thuận trước. Ở Việt Nam, Tín dụng là chỉ hình thức vận động nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nước để hình thành nguồn vốn tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng khác, đồng thời sử dụng nó để cho vay phục vụ sự phát triển kinh tế. Khái quát lại có 19 thể hiểu tín dụng theo khái niệm cơ bản sau: Trong đó mối quan hệ giao dịch được thể hiện ở các nội dung sau: i. Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.
Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản. Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay. Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay). Tóm lại, tín dụng là phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi.