Chương 1 là giới thiệu tổng quan Chương 2 đưa ra cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3 trình bày thiết kế nghiên cứu Chương 4 tiến hành phân tích dữ liệu Chương 5 nêu lên kết quả nghiên cứu và kết luận 7 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này sẽ bắt đầu với một số định nghĩa liên quan đến thương mại điện tử, thương mại di động. Tiếp theo, sẽ trình bày những phương thức thanh toán khác nhau. Sau đó, trình bày về thanh toán di động, các lý thuyết chấp nhận, lý thuyết chấp nhận được lựa chọn và cuối cùng đưa ra mô hình nghiên cứu.
Thương mại điện tử Thương mại điện tử (e-commerce) nổi lên cùng với sự phát triển và tăng trưởng của Internet và nó liên quan đến CNTT. Đầu tiên, định nghĩa về TMĐT như là: “mua và bán hàng hóa và dịch vụ trên Internet” (Autralian Taxation Office – ATO, 1997). Mặt khác, một số người cho rằng TMĐT bao hàm nhiều hơn là các giao dịch tài chính điện tử trung gian giữa các tổ chức và khách hàng. Vì vậy, nhiều người đề cập đến TMĐT là tất cả các giao dịch điện tử qua trung gian chẳng hạn như là fax, điện tín (telex), trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), Internet, truyền hình kỹ thuật số qua cáp và vệ tinh, các phương tiện truyền thông kỹ thuật số như mạng không dây và điện thoại giữa tổ chức với bất kỳ bên giao dịch thứ ba (Chaffey, 2007), còn những giao dịch không có chức năng giao dịch như trên của khách hàng thông tin thêm được coi là một phần của TMĐT.
Kalakota và Whinstone (1997) đưa ra những quan điểm khác nhau của TMĐT như sau: Theo quan điểm truyền thông: TMĐT là việc cung cấp các thông tin, sản phẩm hoặc dịch vụ hoặc thanh toán bằng phương tiện điện tử. Theo quan điểm quá trình kinh doanh: TMĐT là việc ứng dụng công nghệ theo hướng tự động hóa các giao dịch kinh doanh và quy trình làm việc. Theo quan điểm dịch vụ: TMĐT cho phép cắt giảm chi phí đồng thời tăng tốc độ và chất lượng cung cấp dịch vụ. 8 Theo quan điểm trực tuyến: TMĐT là mua và bán các sản phẩm và thông tin trực tuyến.
Hoạt động TMĐT có thể được phân loại thành 2 loại: một là giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp (business to business – B2B), hai là giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (business to consumer – B2C). Trong TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp, việc kinh doanh thường sử dụng Internet để tích hơp trong chuỗi giá trị gia tăng mà có thể được mở rộng từ nhà cung cấp nguyên liệu đến người tiêu dùng cuối cùng. Mặc dù, TMĐT giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp đại diện cho số lượng lớn tất cả các giao dịch TMĐT, nhưng hầu hết sự chú ý lại được hướng đến phân khúc doanh nghiệp và người tiêu dùng đề cập đến giao dịch thương mại giữa các tổ chức và khách hàng. Từ những định nghĩa đã cho thấy sự chấp nhận của người dùng là một khái niệm quan trọng của TMĐT.
Tuy nhiên, sự không chấp nhận của người dùng từ lâu đã là một trở ngại cho việc áp dụng thành công hệ thống thông tin (IS) và công nghệ thông tin (IT) 2. Thương mại di động Về định nghĩa của thương mại di động (m-commerce), do thực tế sự phát triển của TMDĐ đang còn ở giai đoạn ban đầu, chưa có một định nghĩa thống nhất. Lee, (Lee et al, 2003) định nghĩa TMDĐ như trao đổi hoặc mua và bán hàng hóa, dịch vụ. Với TMDĐ, mọi người có thể thanh toán bất cứ lúc nào thông qua một thiết bị di động.
Nó không chỉ tăng số lượng giao dịch trên thị trường giao dịch điện tử, mà còn khuyếch đại toàn bộ thị trường TMĐT. Trong nghiên cứu này, TMDĐ liên quan đến việc tiến hành giao dịch thông qua thiết bị không dây. Mylonopoulos và Doukidis (2003) đề xuất một định nghĩa hệ thống, xem TMDĐ như là một hệ thống sinh thái tương tác của các cá nhân và tổ chức hơp tác, và hệ thống này được xây dựng dựa trên nền kinh tế và sự thành công của công nghệ khác nhau. Dựa trên những điều đã nói ở trên, TMDĐ có thể được định nghĩa như sau: 9 Thông qua bất kỳ thiết bị di động và mạng lưới thông tin liên lạc không dây, các hoạt động liên quan đến giao dịch thương mại, truy nhập dữ liệu, dịch vụ mạng, với tiến trình xử lý mà không có bất kỳ ranh giới nào của thời gian và không gian, nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh và hiệu quả của tiến trình thương mại trong vùng phủ sóng của TMDĐ.
Ngày nay, nhiều giao dịch TMĐT được thực hiện thông qua các thiết bị di động (ví dụ như điện thoại di động, máy tính cầm tay, máy tính bảng và những giao diện được gắn trên xe) bằng cách sử dụng mạng viễn thông không dây và công nghệ TMĐT có dây khác, chúng được gọi là TMDĐ. Tiềm năng của các ứng dụng TMDĐ đã tăng lên nhanh chóng trong thời gian ngắn, nhiều tổ chức hàng đầu đã chi lượng tiền lớn vào các công nghệ này. Trong khi TMĐT chủ yếu là về mua và bán, TMDĐ được dự đoán sẽ mở rộng truyền tải dữ liệu. Tất nhiên, số lượng người sử dụng điện thoại ngày càng tăng như là nhóm mục tiêu, và xu hướng cắt giảm chi phí giao dịch và sự liên quan của những người tham gia thị trường nhằm cải thiện mối quan hệ với khách hàng là tiêu biểu cho tiềm năng to lớn của TMDĐ được xem là một cấp độ mới của TMĐT.
Ngoài ra, để cho các ứng dụng trên nền tảng không dây được sử dụng hiệu quả trong môi trường TMDĐ, cần hiểu rõ về những yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận thành công. Một ví dụ về các dịch vụ hỗ trợ di động cần thiết là dịch vụ thanh toán di động (mobile payment hay còn viết là m-payment), sẽ cung cấp các giải pháp thanh toán phổ biến với các thiết bị di động. Dự đoán rằng TTDĐ sẽ trở thành một dịch vụ di động thành công với lý do nó được cộng thêm các dịch vụ hỗ trợ cần thiết, sự tăng trưởng của TMDĐ cực kỳ lạc quan dựa vào các giải pháp thanh toán hiệu quả cung cấp bởi dịch vụ TTDĐ và ngược lại (Constance, 2001). Thực tế là hiện nay có một sự không chắc chắn về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ TTDĐ đã không được như mong đợi.
Hệ thống thanh toán Mua và bán hàng hóa hàm ý là thanh toán, điều này đúng với thực tế. Trong quá khứ, hoạt động này được thực hiện bằng tiền giấy nhưng với sự phát triển của công nghệ, con người bắt đầu sử dụng những công nghệ khác nhau để thanh toán. Lúc đầu, mọi người sử dụng Internet nhưng nó lại có một số hạn chế. Một trong những hạn chế quan trọng liên quan đến thực tế là cần thiết có một kết nối Internet để thực hiện các giao dịch.
Vấn đề này bây giờ có thể được giải quyết bằng kết nối không dây, theo cách giới thiệu TMDĐ (Jonker, 2003). Hiện nay, có nhiều cách thanh toán khác nhau. - Thanh toán trực tiếp tiền mặt - Sử dụng thẻ tín dụng trực tuyến - Sử dụng thẻ ghi nợ - Sử dụng điện thoại di động (TTDĐ – thanh toán di động) Thanh toán di động là sử dụng điện thoại di động để trả tiền cho hàng hóa và dịch vụ. Đối với người tiêu dùng, thanh toán di động có nghĩa là đừng mua bằng thẻ tín dụng và tiền mặt nữa, và với dịch vụ trả trước không phải lo lắng về hóa đơn hàng tháng.
TTDĐ có thể thực hiện ở mọi nơi và mọi lúc. Do sự gia tăng nhanh của cuộc sống hiện đại, xu hướng giảm chi phí giao dịch và mối quan tâm của người tham gia thị trường nhằm cải thiện mối quan hệ với khách hàng. TTDĐ được nhóm lên ở Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng đã không tạo được sự quan tâm nhiều ở Mỹ và khu vực Châu Âu. Trong năm 2003, 94,4% số người sử dụng TTDĐ toàn cầu là người Nhật Bản.
Đất nước này bắt đầu phát triển thông tin di động khi phần còn lại của thế giới tập trung vào Internet. Tuy nhiên, tại Nhật Bản vì Internet không phổ biến rộng rãi, thông tin DĐ trở thành cách giao tiếp. Viễn thông dẫn đường cho cuộc cách mạng TTDĐ ở Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng nó sẽ khó khăn hơn cho nước này khi đi cùng con đường khi ở Mỹ và các nước Châu Âu nơi mà thẻ thanh toán đã ngấm sâu vào thói quen của người tiêu dùng, chiếm 11 70% giao dịch bán lẻ. Ở những nơi này, bất kỳ nhu cầu viễn thông thiết lập một hệ thống TTDĐ đang phải đương đầu với nhóm người mà không mong muốn di chuyển khỏi hệ thống thanh toán quen thuộc của mình và họ không bao giờ nghĩ điện thoại di động như các thiết bị thanh toán (Jonker, 2003).
Bước quan trọng nhất trong việc xây dựng hệ thống TTDĐ thành công là thiết lập các ưu đãi cho tất cả các bên liên quan. Nếu không có điều này, sẽ không có tiến bộ. Với mỗi người tham gia, nên chấp nhận các nguyên tắc cơ bản nhất định và đẩy mạnh nhu cầu hàng hóa vì lợi ích của toàn hệ thống. et al, 2005) + Các ngân hàng và các công ty thẻ tín dụng (và các bên liên quan như nhà thu mua, đưa các trung gian mới vào mạng lưới và quá trình giao dịch, và các nhà khai thác mạng lưới, cung cấp cho các đơn vị trung gian công nghệ POS) thúc đẩy sự tồn tại chuỗi giá trị, hơn là xây dựng giải pháp cạnh tranh mới.
Họ cũng nên đưa ra cách thức để cho viễn thông di động tham gia tạo ra giá trị hợp tác. + Các nhà khai thác di động nên xem xét các hệ thống thanh toán di động mới trong bối cảnh có nhiều cách thức mới để tăng doanh thu, đặc biệt tính phí dịch vụ TTDĐ hàng tháng hoặc cho từng giao dịch. Các nhà khai thác mạng cũng nên tận dụng những lợi thế tích cực ảnh hưởng của việc đưa điện thoại đi sâu vào cuộc sống của chủ thuê bao (đây là một động lực quan trọng trong mô hình Nhật Bản). + Các nhà cung ứng thiết bị cầm tay nên nắm bắt phương pháp tiếp cận mới và bắt đầu xem xét tích cực những tính năng tích hợp hoạt động TTDĐ vào sản phẩm bản đồ chỉ đường.
Tính năng TTDĐ được xem như là điều quan trọng tiếp theo để thay đổi thiết bị cầm tay, làm theo tiêu chuẩn và tương thích giữa các nhà khai thác mạng và nền tảng chủ chốt để duy trì được sức hấp dẫn với người sử dụng và quy mô lợi nhuận.