Chương I: Tổng quan nghiên cứu - giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương II: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu – Trình bày các khái niệm liên quan, cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương III: Thiết kế nghiên cứu - Trình bày phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề tài, áp dụng cơ sở lý thuyết đã nêu vào phân tích các vấn đề thực tế liên quan đến lòng trung thành của khách hàng khi dùng dịch vụ ngân hàng điện tử để từ đó xây dựng mô hình các yếu tố tác động và các giả thuyết cho nghiên cứu này. Chương IV: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu - Trình bày phương pháp phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu. Chương V: Kết luận và Kiến nghị 4 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Khái niệm về dịch vụ: Khái niệm dịch vụ được một số nhà nghiên cứu định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau như sau: Theo Mathe và Shapiro (1993): “Dịch vụ là những hoạt động mang tính liên tục nhằm cung cấp những giá trị cho khách hàng trong thời gian dài và được đánh giá bằng cách gia tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng đối với những sản phẩm hay những chuỗi sản phẩm”. Theo Zeithaml và Bitner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình hoặc cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Theo Philip Kotler (2003) định nghĩa: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.
Tại Việt Nam, trong từ điển bách khoa Việt Nam có giải thích dịch vụ là các hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt và do tính đa dạng nên cũng chia thành nhiều loại dịch vụ khác nhau. Từ các định nghĩa trên ta có thể thấy dịch vụ là một sản phẩm vô hình nhằm đáp ứng một nhu cầu nào đó của khách hàng. Dịch vụ ngân hàng: 2. Khái niệm: Trong dự thảo Luật các Tổ chức tín dụng (điều 4, khoản 11) và dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước (điều 8, khoản 1) đều quy định: “Hoạt động ngân hàng là 5 việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một trong các nghiệp vụ sau đây dưới mọi hình thức: (a) Nhận tiền gửi; (b) Cấp tín dụng; (c) Cung ứng dịch vụ thanh toán”.
Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì dịch vụ tài chính là bất cứ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành của dịch vụ tài chính. Đối với khách hàng, khi nói đến dịch vụ ngân hàng đa số khách hàng sẽ nghĩ ngay đến khả năng cung ứng những sản phẩm dịch vụ thuần túy như thanh toán, dịch vụ thẻ, dịch vụ thanh toán hóa đơn, dịch vụ ngân hàng qua mạng.
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng: Do các sản phẩm mà dịch vụ ngân hàng cung cấp cũng giống như sản phẩm của các loại hình dịch vụ khác nên dịch vụ ngân hàng cũng mang những đặc trưng cơ bản như sau: Tính vô hình: đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác. Cũng giống như các dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng cũng không có hình thái vật chất cụ thể. Tính đồng thời: dịch vụ ngân hàng có đặc điểm này là do việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ luôn xảy ra đồng thời, không tách rời nhau. Dịch vụ ngân hàng chỉ được cung ứng khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đáp ứng một số điều kiện nhất định của nhà cung cấp là ngân hàng.
Điều này sẽ ảnh hưởng tới việc xác định giá cả dịch vụ nhằm đảm bảo lợi ích của cả hai bên. Tính không ổn định và khó xác định khối lượng: do là một loại hình dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng do đó sẽ chịu rất nhiều tác động từ các yếu tố của môi trường kinh doanh. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng điện tử: Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo định nghĩa của ngân hàng Trung Ương Bahamas (2006) thì “Ngân hàng điện tử (e-banking) là hoạt động phân phối tự động các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng truyền thống cũng như hiện đại trực tiếp đến khách hàng thông qua kênh giao tiếp tương tác điện tử.
E-banking bao gồm các hệ thống cho phép các khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp tiếp cận với tài khoản, thực hiện các giao dịch hoặc nhận được các thông tin về sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua mạng công cộng hoặc nội bộ, trong đó có Internet”. Nhà nghiên cứu Trương Đức Bảo (2003) cho rằng “dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới”. Theo cách hiểu này, dịch vụ ngân hàng điện tử chính là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng. Với định nghĩa của 2 nhà nghiên cứu Trần Hoàng Ngân & Ngô Minh Hải (2006) thì “Ngân hàng điện tử được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống trước đây được phân phối trên các kênh mới như Internet, điện thoại, mạng không dây.
Hiện nay, ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: hình thức ngân hàng trực tuyến, chỉ tồn tại dựa trên môi trường mạng Internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng; và mô hình kết hợp giữa hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống và điện tử hoá các dịch vụ truyền thống, tức là phân phối những sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới. Ngân hàng điện tử tại Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này”. Trong văn bản Quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 31/7/2006 định nghĩa “Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử”. Trong đó, khái niệm kênh phân phối điện tử 7 không chỉ được hiểu thuần tuý là cầu nối đưa sản phẩm và dịch vụ hoàn chỉnh từ ngân hàng đến người tiêu dùng, mà là một khái niệm bao hàm mọi hoạt động bên trong và bên ngoài ngân hàng để xử lý và thực hiện dịch vụ đến khách hàng.
“Kênh phân phối điện tử là hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng”. Theo đó, kênh phân phối điện tử gồm tổng thể các quy trình và hệ thống phương tiện điện tử giao dịch với khách hàng như hệ thống máy ATM, POS. hệ thống quản lý và xử lý dữ liệu - giao dịch tại các ngân hàng; hệ thống giao tiếp và xử lý giao dịch liên ngân hàng. Như vậy, qua các khái niệm đã nêu ở trên có thể hiểu dịch vụ ngân hàng điện tử là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông.
Theo Điều 4 Luật Giao dịch điện tử Việt Nam 2005 có nêu “Phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học điện tử hoặc công nghệ tương ứng. Mạng viễn thông bao gồm mạng internet, mạng điện thoại, mạng vô tuyến, mạng intranet, mạng extranet…” E-Banking là chữ viết tắt của cụm tử Electronic-banking (dịch vụ ngân hàng điện tử), đó là một công cụ tiện ích cung cấp các sản phẩm và dịch vụ bán lẻ mới lẫn truyền thống của ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử và các kênh truyền thông tương tác khác. Các dịch vụ ngân hàng điện tử cung cấp tại Việt Nam: Theo nhà nghiên cứu Trần Hoàng Ngân & Ngô Minh Hải (2006) và sau khi khảo sát các dịch vụ đang được cung cấp bởi các ngân hàng TMCP thì dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam cung cấp các dịch vụ như sau: Các loại thẻ thanh toán như thẻ tín dụng, thẻ ATM. Hệ thống thanh toán tại các điểm bán hàng (EFTPOS – Point of Sale).
Máy rút tiền tự động (ATM – Automated Teller Machine). Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Telephone Banking). Dịch vụ ngân hàng qua mạng máy tính toàn cầu (Internet Banking). 8 Dịch vụ ngân hàng qua mạng viễn thông không dây (Mobile Banking).
Dịch vụ ngân hàng qua vô tuyến truyền hình tương tác (Interactive TV). SMS banking: khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng thông qua tin nhắn điện thoại di động ATM: khách hàng giao dịch với ngân hàng qua hệ thống máy rút tiền tự động của ngân hàng WAP banking: khách hàng giao dịch với ngân hàng qua trang web của ngân hàng trên điện thoại di động Mail banking: khách hàng giao dịch với ngân hàng qua thư điện tử FAX banking: khách hàng giao dịch với ngân hàng qua FAX 2. Lợi ích và khó khăn của dịch vụ ngân hàng điện tử: 2. Lợi ích của dịch vụ ngân hàng điện tử: Đối với nền kinh tế: Dịch vụ ngân hàng điện tử trước hết là một dịch vụ của ngân hàng, cụ thể hơn là một dịch vụ thanh toán của ngân hàng.
Dịch vụ này giúp cho quá trình thanh toán trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn. Điều này giúp cho quá trình lưu thông tiền tệ mà cụ thể là vốn trong nền kinh tế thuận tiện hơn, theo đó vốn sẽ đến những nơi cần đến một cách tốt hơn, làm tăng hiệu quả của quá trình sử dụng vốn để đáp ứng được các nhu cầu về vốn trong nền kinh tế một cách hiệu quả.