chương 1, tác giả đã phác thảo nội dung của luận văn và xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu mà luận văn cần làm rõ. Chương 2 là nền tảng của nghiên cứu này. Để đảm bảo kết quả phân tích cần hiểu các nội dung cơ bản về bảo hiểm, lợi nhuận và một số chỉ tiêu đo lường. Bên cạnh đó thông qua việc khái quát nội dung, kết quả của các nghiên cứu trước đây, luận văn phân tích những khoảng trống của những nghiên cứu trước, từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu cũng như hình thành nên câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu cho luận văn.
Lợi nhuận bảo hiểm Samuelson (1989) định nghĩa lợi nhuận là những gì còn lại từ thu nhập kiếm được sau khi trừ đi tất cả các chi phí và đó là lý do chính cho sự tồn tại liên tục của một tổ chức kinh doanh và cũng là mong đợi của chủ sở hữu. Lợi nhuận là khả năng kiếm lời từ tất cả hoạt động kinh doanh của một tổ chức, công ty hoặc doanh nghiệp. Theo Kaguri (2013) lợi nhuận là khả năng sinh lời khi sử dụng một khoản đầu tư nhất định và được coi là thước đo hiệu quả, đưa ra hướng quản lý hiệu quả hơn. Theo Dam Segal (2004) lợi nhuận của công ty bảo hiểm được thể hiện trong phí bảo hiểm thuần, lợi nhuận từ các hoạt động bảo lãnh, doanh thu hàng năm, lợi tức đầu tư, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.
Swiss Re (2008) cho rằng lợi nhuận được xác định bằng lợi nhuận hoạt động và lợi nhuận đầu tư. Lợi nhuận hoạt động bao gồm tỷ lệ tổn thất, rủi ro nhận bảo hiểm, chi phí quản lý, chi phí bồi thường). Lợi nhuận hoạt động đầu tư, đó là chức năng phân bổ và quản lý tài sản. Bảo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong thúc đẩy thương mại và cơ sở hạ tầng.
Ở một khía cạnh khác, nó thúc đẩy sự ổn định tài chính và xã hội, huy động và là kênh tiết kiệm, hỗ trợ kinh doanh, cải thiện chất lượng cuộc sống cá nhân và phúc lợi chung của một quốc gia. CTBH có thể coi là một doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tối đa hóa lợi nhuận với mức rủi ro cho phép. Khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững là mục tiêu chủ yếu của CTBH (Hifza Malik, 2011). Renbao Chen (2004) đưa ra trong nghiên cứu của ông, lợi nhuận cao cung cấp tiềm lực (tài chính có sẵn từ lợi nhuận giữ lại hoặc từ thị trường vốn) và khuyến khích (tỷ lệ hoàn vốn cao) đầu tư mới.
Do đó chúng ta hiểu được CTBH có trách nhiệm kép: một là phải có lợi nhuận cao từ đầu tư mới, hai là phải có lợi nhuận để dung hoà với các ngành khác trong nền kinh tế ngay cả khi tổn thất xảy ra. ROA là chỉ số được sử dụng rộng rãi trong phân tích lợi nhuận bảo hiểm. Đó là lý do hầu hết các nghiên cứu sử dụng ROA như thước đo về khả năng sinh lợi trong các tổ chức tài chính. Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ nhằm tập trung nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng đến ROA của các CTBH phi nhân thọ ở Việt Nam.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp (Gil, 2011). ROA cho biết mức thu nhập ròng trên tài sản, thể hiện khả năng của CTBH trong việc tạo ra lợi nhuận (Malik, 2011) ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản Cơ sở lý thuyết Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận CTBH trên thế giới. Điểm chung của những nghiên cứu này là được xây dựng dựa trên các lý thuyết dưới đây: 2. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern Portfolio Theory-MTP) Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại được xây dựng bởi Harry Markowitz năm 1952.
Lý thuyết này cho rằng các nhà đầu tư có thể nâng cao hiệu suất danh mục đầu tư LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 bằng cách phân bổ các khoản đầu tư của họ vào các chứng khoán tài chính khác nhau và các lĩnh vực tương tự không kỳ vọng phản ứng tương tự khi thông tin mới xuất hiện. Nó giúp lựa chọn danh mục đầu tư hiệu quả bằng cách phân tích các danh mục đầu tư khác nhau có thể xảy ra của các chứng khoán xác định. Mô hình MPT cho thấy các nhà đầu tư làm như thế nào dể giảm thiểu rủi ro của họ. Nó dựa trên lợi nhuận kỳ vọng (trung bình) và độ lệch chuẩn (phương sai) của các danh mục đầu tư khác nhau.
MPT cố gắng tối đa hoá lợi nhuận danh mục đầu tư dự kiến hoặc giảm thiểu rủi ro cho một mức lợi nhuận bằng cách cẩn thận lựa chọn tỷ trọng các tài sản khác nhau. Mô hình danh mục đầu tư là sự kết hợp trọng số các tài sản. MPT tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, trong đó tồn tại rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống. Những khái niệm này thường được biết đến khi thảo luận về đầu tư tài chính.
MTP cho rằng có thể tối thiểu hoá rủi ro thị trường nhằm đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng thông qua việc xây dựng một danh mục đầu tư đã được đa dạng hoá, nói một cách đơn giản là “không bỏ trứng vào cùng một giỏ”. Đa dạng hóa là biện pháp tránh rủi ro tập trung. Theo MTP, một danh mục hiệu quả là một danh mục có mức lợi nhuận kỳ vọng ứng với mức rủi ro thấp nhất hoặc một danh mục có mức rủi ro kỳ vọng nhưng mang lại mức lợi nhuận tối đa. Chính vì vậy, các CTBH có thể gia tăng lợi nhuận thông qua đa dạng hoá sản phẩm bảo hiểm, việc đa dạng hoá này phụ thuộc vào các quyết định và hiệu quả trong quản trị của chính CTBH.
Theo MTP khả năng sinh lời của CTBH không chỉ phụ thuộc từ các yếu tố bên trong mà còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài của CTBH. Nhân tố bên trong là các đặc trưng riêng biệt của từng CTBH thể hiện hiệu quả quản lý của CTBH đó (quy mô công ty, cấu trúc vốn); trong khi đó các yếu tố bên ngoài là các nhân tố từ môi trường vĩ mô mà các nhà quản lý CTBH không thể kiểm soát được (chu kỳ kinh tế, lạm phát). Đó là các yếu tố rủi ro đến từ nền kinh tế vĩ mô (Rachdi, 2013). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage Pricing Theory – APT) Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá được đề xuất bởi Stephen Ross (1976). APT cho rằng nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty tư nhân, các hiệu ứng đặc biệt có khuynh hướng bị loại bỏ ra khỏi danh mục đầu tư lớn và đa dạng. Đây là nguyên tắc đa dạng hóa và nó có ảnh hưởng trong lĩnh vực bảo hiểm. CTBH không thể biết trước các rủi ro nhưng nó có thể dự đoán các rủi ro.
Cummins (1994) cho rằng các CTBH là tập đoàn và chính sách của CTBH là công cụ tài chính hoặc dự phòng bồi thường là yếu tố tất yếu để áp dụng mô hình tài chính định giá bảo hiểm. Các mô hình được đưa ra để ước tính phí bảo hiểm liên quan đến thị trường cạnh tranh. Thu phí tối thiểu cũng như phí cạnh tranh làm tăng giá trị thị trường của công ty. Do đó các mô hình tài chính và định giá tài chính là một trong những thông tin quan trọng mà CTBH nên có khi đưa ra quyết định tài chính về biểu phí, dự phòng kỹ thuật… 2.
Thuyết cấu trúc hiệu quả Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure – ES) cho rằng các CTBH đạt lợi nhuận cao hơn là do chúng hoạt động hiệu quả hơn và với khuynh hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô, mối quan hệ này được giải thích dựa trên lợi thế nhờ quy mô (Burca, 2012). Tính kinh tế theo quy mô, các CTBH lớn hơn có chi phí thấp hơn, nhờ đó lợi nhuận cao hơn. Các lý thuyết cho rằng có lợi nhuận của CTBH chịu tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng các học thuyết trên để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của CTBH, tuy nhiên không có một lý thuyết nào liệt kê đầy đủ các yếu tố.
Đề tài nghiên cứu dựa vào hoàn cảnh kinh tế Việt Nam để chọn mô hình thích hợp. Các nghiên cứu thực nghiệm trước LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Trên thế giới đã thực hiện nhiều nghiên cứu định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các CTBH. Shiu (2004) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận các CTBH ở Anh. Tác giả sử dụng dữ liệu bảng bao gồm dữ liệu kinh tế và lợi nhuận trong giai đoạn 1986-1999.
Ba biến phụ thuộc được sử dụng để nắm bắt các khía cạnh khác nhau của hoạt động bảo hiểm là năng suất đầu tư, phần trăm thay đổi trong quỹ cổ đông và lợi nhuận trên vốn cổ đông. Các biện pháp thực hiện này liên quan đến bốn biến kinh tế là lạm phát, thay đổi lãi suất, mức lãi suất, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và tám biến công ty cụ thể là quy mô công ty, tái bảo hiểm, đòn bẩy, đầu tư, khả năng thanh toán, rủi ro nhận bảo hiểm, thanh khoản, cấu trúc tài sản, được lựa chọn dựa trên lý thuyết nền tảng có liên quan. Mô hình bình phương nhỏ nhất và mô hình dữ liệu bảng được sử dụng trong nghiên cứu. Dựa vào các kết quả thực nghiệm, nghiên cứu này cho thấy thanh khoản, lạm phát và lãi suất là những yếu tố quyết định có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến lợi nhuận các CTBH của Anh.
Curak (2011) kiểm tra yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các CTBH ở Croatia từ năm 2004 đến năm 2009. Các yếu tố quyết định về lợi nhuận được lựa chọn là các biến giải thích bao gồm cả các yếu tố bên trong đối với CTBH và các yếu tố bên ngoài đối với môi trường kinh tế. Bằng cách áp dụng kỹ thuật dữ liệu bảng, tác giả cho thấy quy mô công ty, rủi ro bảo lãnh phát hành, lạm phát có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của các CTBH. Kết quả cuối cùng chỉ ra rằng thị trường bảo hiểm Croatia có mức độ phát triển thấp, nhưng nó rất năng động.