Chương 1. Tổng quan về nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về hành vi gian lận thuế Từ các định nghĩa về hành vi gian lận ta có thể hiểu hành vi gian lận thuế là hành vi vi phạm hay lợi dụng những quy định của pháp luật, bằng các thủ đoạn khác nhau để giảm một phần nghĩa vụ thuế phải nộp hoặc để hưởng lợi không đúng từ việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế hoặc làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm. Hành vi gian lận thuế tạo ra môi trường cạnh tranh thiếu công bằng giữa các doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp mất niềm tin vào các chính sách thuế. Mục đích cuối cùng của hành vi gian lận thuế là tối đa hóa lợi nhuận tăng thu nhập cho công ty hoặc đem về lợi ích cho các cá nhân hay tổ chức, tối thiểu hóa chi phí thuế bằng cách tối thiểu hóa các khoản thuế mà các doanh nghiệp phải nộp cho NSNN.
Gian lận thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm và gây thất thu nghiêm trọng cho NSNN, giảm phúc lợi xã hội. Gian lận thuế là hành vi vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành với hoạt động ngành thuế của Nhà nước. Có thể nói, Nhà nước còn đánh thuế thì sẽ còn tồn tại hành vi gian lận thuế do động cơ của gian lận thuế luôn tồn tại khi Nhà nước thu thuế đó là mong muốn giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta chấp nhận các hành vi gian lận thuế.
Gian lận thuế sẽ giảm bớt nếu hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả cao. Theo Nghị định 100/2004/NĐ-CP ngày 25/2/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế: [6] Hành vi trốn thuế là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn hoặc được miễn, giảm. Số tiền thuế trốn là số tiền thuế được phát hiện thêm ngoài số liệu kê khai trên tờ khai thuế, quyết toán thuế hoặc ngoài sổ kế toán. Số thuế trốn để xem xét xử phạt 6 hành chính không xét đến chính sách ưu đãi về thuế, không bù trừ vào số thuế được khấu trừ, được hoàn hoặc số tiền lỗ của đối tượng nộp thuế.
Thời điểm xác định cá nhân, tổ chức có hành vi trốn thuế để xử phạt vi phạm hành chính là thời điểm cá nhân, tổ chức đã hoàn thành việc kê khai số thuế phải nộp theo quy định của pháp luật về thuế hoặc thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế theo hồ sơ đề nghị của cá nhân, tổ chức đó.2 Các hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân Các hành vi gian lận thuế thu nhập cá nhân từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cũng như các loại thuế khác, gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là những hành vi làm giảm số thuế phải nộp. Mục đích cuối cùng của hành vi này là tối đa hóa lợi nhuận tăng thu nhập cho các cá nhân, tối thiểu hóa chi phí thuế bằng cách tối thiểu hóa các khoản thuế mà họ phải nộp cho ngân sách nhà nước. Các hành vi gian lận thuế TNCN từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước hiện nay thể hiện ở một số hình thức sau đây: • Tự khai là tài sản duy nhất Khoản 2, Điều 4 Luật số 04/2007/QH12 của Quốc hội ngày 21/11/2007 về thuế TNCN quy định [12]: “Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất” thì được miễn thuế; đồng thời người chuyển nhượng bất động sản tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhà nước, trong đó có ngành thuế còn chưa đáp ứng; công tác kiểm tra, đối chiếu cần rất nhiều thời gian thì ít nhất trong vài năm đầu, cơ quan chức năng không thể kiểm soát được từng cá nhân có bao nhiêu nhà ở, đất ở. Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế. Thực tế này đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho Ngân sách Nhà nước. Thậm chí, người sở hữu nhà ở, đất ở trong cùng một địa bàn nhưng khi kê khai thì người sở hữu nhà hoàn toàn có thể khai theo địa chỉ ghi 7 trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất gửi ở cơ quan thuế.
Trong khi đó, cơ sở dữ liệu tại các quận huyện, địa phương lại quản lý theo địa chỉ cấp đổi mới, do vậy, lại một lần nữa, cơ quan thuế cần đến văn bản tự cam kết của người kê khai chứ chưa có thông tin chuẩn xác để đối chiếu. • Hạ giá chuyển nhượng Khoản 1, Điều 17 Thông tư 92/2015/TT-BTC chỉ rõ: “Giá chuyển nhượng đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có công trình xây dựng trên đất là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng. Giá chuyển nhượng đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng trên đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng”. [4] Trường hợp trên hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá đất hoặc giá đất trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định thì giá chuyển nhượng đất là giá do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về đất đai.” Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định.
Thực tế trên thị trường bất động sản, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định. Nhưng vì lợi ích của cả người mua và người bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế và để được cơ quan Nhà nước chấp nhận hồ sơ, họ chỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giá ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quy định. Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phải nộp. Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế.
Cụ thể, bà Trương Thị Pha bán một lô đất giá thực tế mua bán là 3 tỷ đồng, giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 2,5 tỷ đồng, tương đương giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định, thuế suất thu nhập cá nhân mà cá nhân phải nộp cho nhà 8 nước khi chuyển nhượng bất động sản hiện nay được xác định là 2% lúc này, số thuế thu nhập cá nhân sẽ bị thất thu là: ( 3 tỷ đồng - 2,5 tỷ đồng) x 2% = 10 triệu đồng. Đây chỉ là một trường hợp với giá trị mua bán không lớn. Trên thực tế, mỗi ngày có biết bao giao dịch diễn ra với giá trị mỗi giao dịch lên đến hàng chục tỷ đồng thì chắc chắn số thuế thất thu là rất lớn, nhất là thời điểm bất động sản đang sốt như hiện nay. • Nhận chuyển nhượng BĐS trong khoảng thời gian theo quy định Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 “ Về việc sửa đổi bổ sung một số điều tài các Nghị định quy định về thuế”.
Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 30 Thông tư số 111/2013/TT-BTC như sau: “Đối với trường hợp người sử dụng bất động sản do nhận chuyển nhượng trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 7 năm 1994 đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2009, nếu từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận thì chỉ nộp một (01) lần thuế thu nhập cá nhân. Trường hợp người sử dụng bất động sản do nhận chuyển nhượng trước ngày 01 tháng 7 năm 1994 thì không thu thuế thu nhập cá nhân. [3] Từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, cá nhân chuyển nhượng bất động sản có hợp đồng công chứng hoặc không có hợp đồng chỉ có giấy tờ viết tay đều phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho từng lần chuyển nhượng.” Cụ thể như trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho bà Đinh Thị Yến gồm hai thửa: Diện tích 400m2 cho đất ở nông thôn và diện tích 595,7m2 cho cây lâu năm thuộc xã Hưng Thạnh, Tân Hưng, Long An. Nguồn gốc đất: Đất của Nguyễn Thị An khai hoang vào năm 1976 sử dụng đến năm 1992.
Năm 1992 bà An bán lại cho Đinh Thị Yến, từ năm 1992 bà Yến đã cất nhà ở và ổn định sản xuất cho đến nay. Trường hợp này cho thấy, phần đất chuyển nhượng BĐS đất ở khai năm 1992 thì năm 1992 trước 9 ngày 1/7/1994 nên không thu thuế TNCN. Đây là điểm mà người dân có thể trốn thuế, gây thất thu cho NSNN. • Chuyển nhượng bắc cầu Khoản 1 Điều 4 Luật số 04/2007/QH12 của Quốc hội ngày 21/11/2007 về thuế TNCN Thuế TNCN quy định [12]: “Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN.
Lợi dụng quy định này, nhiều trường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế. Cụ thể, hai chị em dâu chuyển nhượng bất động sản cho nhau là đối tượng phải nộp thuế.