Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ giới thiệu các lý thuyết có liên quan làm cơ sở lý luận cho thiết kế nghiên cứu. Chương 2 bao gồm hai phần. Đầu tiên là tóm tắt lý thuyết về các khái niệm chính của nghiên cứu: sự chấp nhận của người nộp thuế, mối quan hệ giữa các nhân tố và sự hài lòng của người nộp thuế, những vấn đề chung về hoạt động nộp thuế điện tử.
Kế tiếp, các mô hình đã nghiên cứu trước đây trên thế giới và trong nước là cơ sở để nghiên cứu đề xuất mô hình nghiên cứu cho Chương tiếp theo. Những lý luận cơ bản về hệ thống nộp thuế điện tử 2. Cơ sở lý luận về nộp thuế điện tử Công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang thay đổi cách vận hành dịch vụ, kể cả dịch vụ hành chính. Chính phủ các nước phát triển xem công nghệ thông tin là công cụ tối quan trọng để nâng cao hiệu suất, cải thiện chi phí và chất lượng dịch vụ hành chính và dịch vụ cung cấp thông tin đến người nộp thuế.
Các nguồn đầu tư đáng kể được chính phủ các nước rót vào nộp thuế điện tử hay xu hướng nộp thuế điện tử đã thu hút các nhà nghiên cứu chú ý đến lĩnh vực này. Trong những năm gần đây, Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn khởi đầu then chốt áp dụng nộp thuế điện tử. Cùng với các quốc gia khác, Việt Nam cũng đối mặt với các vấn đề khó khăn, đơn cử như sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử vẫn nằm ở mức thấp. Carter và Belanger (2005) đã tìm ra rằng việc chấp nhận hệ thống nộp thuế điện tử không đơn giản chỉ liên quan đến mặt công nghệ.
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thống đã giúp chính phủ tìm ra cách đáp ứng nhu cầu của người nộp thuế chính là chuyển đổi từ hệ thống nộp thuế truyền thống sang hệ thống nộp thuế điện tử. Xuất phát từ nhu cầu phục vụ người nộp thuế tốt hơn, chính phủ các nước đã cung cấp một hệ thống dịch vụ thông tin hiệu quả. Từ đó hệ thống nộp thuế điện tử được khai sinh nhằm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 giúp người nộp thuế nộp ngân sách nhà nước trên Cổng thông tin điện tử của Cơ quan Thuế. Nhờ những ưu điểm vượt trội như tiết kiệm chi phí đi lại, thời gian giao dịch; đơn giản thủ tục giấy tờ khi thực hiện nghĩa vụ thuế; chủ động thời gian nộp thuế, hệ thống nộp thuế điện tử cũng góp phần cải thiện mối quan hệ giữa chính phủ và người nộp thuế thông qua các phản ứng tương tác hiệu quả, linh hoạt.
Bên cạnh phương thức nộp thuế truyền thống, chính phủ các nước trên thế giới đang tăng cường tương tác với người nộp thuế thông qua hệ thống nộp thuế điện tử. Trong những năm gần đây, nhu cầu mong muốn được cung cấp dịch vụ chất lượng hơn thông qua mạng Internet của người nộp thuế tăng lên, đòi hỏi chính phủ phải phát triển và triển khai các hệ thống điện tử để cung cấp những dịch vụ này. Thành công của hệ thống nộp thuế điện tử, đặc biệt đặt trong bối cảnh giữa chính phủ và người nộp thuế, không phụ thuộc vào công nghệ mà dựa trên chính người nộp thuế. Điều này dẫn đến việc cần phải đánh giá hệ thống nộp thuế điện tử khi đặt trong bối cảnh giữa chính phủ và người nộp thuế nhằm đo mức độ thành công của hệ thống này trên cương vị của người nộp thuế.
Những nghiên cứu đánh giá như thế này sẽ giúp Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định xem liệu họ có thể hoàn thành các nhiệm vụ được đặt ra để cung cấp dịch vụ như yêu cầu. Sau một vài cải tiến nhỏ với mô hình nguyên bản và đề nghị mô hình IS Success đã được cập nhật, DeLone và McLean (2003) tiến hành kiểm tra và thử nghiệm mô hình mới đặt trong những bối cảnh khác nhau. Đây được xem như hai cơ hội tuyệt vời để kiểm tra và phê duyệt mô hình về hệ thống nộp thuế điện tử. Thêm vào đó, để biến trang mạng trở nên có giá trị trong xu thế chính phủ điện tử, các nhà phát triển mạng phải hiểu rõ và phát triển những yếu tố đánh giá và đo mức độ thành công của hệ thống nộp thuế điện tử một cách hiệu quả.
Hầu hết các hoạt động của hệ thống nộp thuế điện tử đều xoay quanh 3 nhánh là chính phủ, doanh nghiệp và người nộp thuế. Hệ thống nộp thuế điện tử hiển nhiên mang lại ích lợi cho doanh nghiệp và chính phủ nhưng thực chất những lợi ích mà nó mang lại cho người nộp thuế cũng không kém. Những sáng kiến về hệ thống nộp thuế điện tử liên quan đến việc giao lưu, tương tác giữa chính phủ và người nộp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thuế có thể khiến việc kết nối và tương tác với chính phủ trở nên dễ dàng hơn, tăng cường mức độ và chất lượng xã hội hóa trong chính phủ. Theo Muir và Oppenheim (2002), tương tác giữa chính phủ và người nộp thuế thông qua hệ thống cho phép người nộp thuế nhận được những thông báo về luật thuế, quy chế nộp thuế, chính sách thuế và dịch vụ nộp thuế của cơ quan thuế.
Hiện nay các cơ quan nhà nước nói chung và Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng đang đưa ra một số lượng lớn các thông tin và dịch vụ bằng hình thức điện tử bao gồm hình thức và dịch vụ nộp thuế điện tử, thông tin về chính sách công, đăng ký và gia hạn giấy phép, nộp phạt và nộp thuế. Trên thế giới, chính sách thuế là một trong những công cụ mà chính quyền các nước dùng để đạt được công bằng và hiệu quả trong kinh tế. Thuế là nguồn tài chính công trên thực tế dễ nhận thấy trong nhiều nền kinh tế, bên cạnh những nguồn khác như khoản thu không thuế ví dụ phí người dùng và giấy phép sử dụng dịch vụ do các cơ quan nhà nước ấn định và các khoản viện trợ nước ngoài. Hệ thống thuế là nguồn tài chính công trong việc phát triển các dự án có thể kể đến là cung cấp cơ sở hạ tầng gồm đường sá, nguồn năng lượng và nguồn nước ổn định.
Tất cả những điều trên kết hợp với nhau tạo thành một môi trường cho phép các doanh nghiệp và nền kinh tế được toàn quyền phát triển. Thuế thu được dựa trên sự đồng thuận trên tinh thần tự nguyện của người nộp thuế nhờ đó người nộp thuế có thể hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế một cách thoải mái và hoàn chỉnh. Để ngăn ngừa hao hụt đòi hỏi chính phủ cần có sự kiểm soát tốt về các khoản chi phí và nguồn thu. Ngân sách quốc gia phải đươc cơ cấu hằng năm để theo sát những khoản thu của chính phủ.
Tuy nhiên hiệu quả lâu dài của các chiến lược thuế phải được xác định và thi hành một cách nhanh chóng. Để khai thác các khoản thu từ thuế, chính phủ cần phải đề ra một hệ thống thuế thích hợp thêm vào số thuế sẽ được thu hồi trong tương lai và nâng cao tỷ lệ nộp thuế. Ở nhiều nền kinh tế trên thế giới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ được xem như nguồn thu thuế tiềm năng và chưa được khai thác để bù vào các khoản thâm hụt tài chính. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đặng Thị Bạch Vân đã mang lại cái nhìn tổng quát về chủ đề đáng quan tâm của cơ quan thuế các cấp thông qua bài nghiên cứu “Xoay quanh vấn đề người nộp thuế và tuân thủ thuế”. Thông qua việc tổng hợp về lý thuyết bài nghiên cứu cho thấy có vô số các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế. Như vậy tùy từng phạm vi nghiên cứu cụ thể mà sử dụng lý thuyết cho phù hợp, và vấn đề là cần xác định mô hình nghiên cứu nào đơn giản nhất trong vô số mô hình khả thi mà vẫn đạt được sự bền vững và tính hiệu quả trong nghiên cứu. Chính vì vậy, luận văn này được thực hiện nghiên cứu các mô hình hiện hành liên quan đến việc chấp nhận nộp thuế điện tử để từ đó lựa chọn ra mô hình phù hợp nhất.
Các mô hình và lý luận về sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử Sự thành bại của hệ thống này phụ thuộc sự tự nguyện của người nộp thuế trên cơ sở người nộp thuế có chấp nhận cải tiến hay không. Ở Việt Nam những năm gần đây, phần trăm số lượng người nộp thuế điện tử vẫn nằm ở mức thấp so với phương thức nộp thuế truyền thống. Luận văn này nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bằng cách áp dụng khung tích hợp của mô hình thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT). Mô hình UTAUT của Venkatesh được dùng để nghiên cứu về sự chấp nhận của người nộp thuế.
Hiện có rất ít các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc chấp nhận nộp thuế điện tử ngoài yếu tố công nghệ như chất lượng thông tin, hệ thống và dịch vụ mà còn có yếu tố chấp nhận từ người dùng (kỳ vọng kết quả thực hiện, kỳ vọng nỗ lực thực hiện, ảnh hưởng xã hội). Thêm vào đó, nghiên cứu này cũng tập trung vào ưu điểm và khuyết điểm của việc nộp thuế điện tử so với phương thức nộp thuế truyền thống. Vì vậy, các nghiên cứu hàn lâm về việc chấp nhận sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử có thể giúp Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nâng cao nhận thức của người nộp thuế về việc nộp thuế điện tử. Trong tương lai, hệ thống nộp thuế điện tử được kỳ vọng sẽ sớm thay thế phương thức nộp thuế truyền thống tại Việt Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Nghiên cứu về sự chấp nhận được quan tâm và phát triển nên từ đó hình thành nhiều mô hình nghiên cứu hỗ trợ, mở rộng hoặc bác bỏ lẫn nhau, trong đó mỗi mô hình bao gồm các nhân tố chấp nhận khác nhau. Những mô hình này đã phát triển không ngừng qua nhiều năm và trải qua những nỗ lực không ngừng nghỉ, mô hình bắt đầu được phê duyệt và mở rộng thêm theo từng thời kỳ. Chương này sẽ giới thiệu những mô hình dễ phân biệt nhất trong các nghiên cứu hệ thống thông tin.