Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiển về xuất khẩu hàng hóa của ASEAN sang Trung Quốc Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của ASEAN sang Trung Quốc giai đoạn 2011-2016 Chương 3: Triển vọng và giải pháp tăng cường xuất khẩu hàng hóa của ASEAN sang Trung Quốc đến năm 2025 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA ASEAN SANG TRUNG QUỐC 1. Tổng quan lý thuyết về xuất khẩu hàng hóa 1. Khái niệm, nội dung của xuất khẩu hàng hóa “Xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá của một quốc gia cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một bên hay đối với cả hai quốc gia.
Tham gia vào hoạt động xuất khẩu hàng hóa này bao gồm các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và chính phủ của các quốc gia. Đây là những chủ thể không thể thiếu của một nền kinh tế Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, nó diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về điều kiện không gian lẫn điều kiện thời gian. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phát triển, nó có thể chỉ diễn ra trong một, hai ngày hoặc kéo dài hàng tháng, hàng năm, có thể được tiến hành trên phạm vi lãnh thổ của một nước hay nhiều nước. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là một hoạt động tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế.
Do những điều kiện khác nhau, mỗi quốc gia có thế mạnh về lĩnh vực này nhưng lại hạn chế về lĩnh vực khác. Để có thể tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu hàng hóa không phải chỉ được diễn ra giữa những quốc gia có lợi thế về một hay một số lĩnh vực mà các quốc gia thua thiệt hơn về tất cả các điều kiện như nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ… thông qua hoạt động trao đổi hàng hóa cũng sẽ thu được những lợi ích nhất định, tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế nội địa. Hoạt động trao đổi hàng hóa đã mang lại lợi ích cho các quốc gia, thông qua việc xuất khẩu những hàng hoá có lợi thế tương đối và nhập khẩu những hàng hoá không có lợi thế tương đối.
Sự chuyên môn hoá trong sản xuất và trao đổi những hàng hoá sẽ giúp cho việc sử dụng tốt nhất những lợi thế của quốc gia mình, giúp 7 hạn chế được những lãng phí về tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động …trong quá trình sản xuất hàng hoá để phục vụ cho xuất khẩu. Bên cạnh đó việc tăng cường xuất khẩu hàng hóa cũng làm giúp cải thiện được số lượng và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao hơn của người tiêu dùng trong nước cũng như phục vụ cho xuất khẩu”1. Các tiêu chí đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng hóa “Nhìn chung, khi thiết lập được một hệ thống các tiêu chí về hoạt động xuất khẩu hàng hóa là một vấn đề cần thiết, từ đó các quốc gia sẽ có cơ sở để phân tích và nhận định kết quả của hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Dựa vào việc phân tích các tiêu chí này cũng hữu ích cho các quốc gia trong việc tìm ra được những hạn chế, yếu kém và đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm cải thiện chất lượng, tăng hiệu quả của hoạt động xuất khẩu hàng hóa, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà các nước đã đề ra.
Có thể kể ra một số tiêu chí sau để đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia:” 1. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa “Kim ngạch xuất hàng hóa của một nước cho biết lượng hàng hóa và giá trị hàng hóa xuất khẩu. Khi kim ngạch xuất khẩu càng gia tăng qua các năm thì cho thấy hoạt động xuất khẩu hàng hóa của nước đó càng phát triển và mở rộng quy mô xuất khẩu hàng hóa. Mặt khác nếu giá trị của hàng hóa xuất khẩu càng lớn thì quốc gia đó cho thấy đã và đang thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu.
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa “Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa là sự gia tăng về khối lượng hàng hóa xuất khẩu và giá trị hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định. Sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa được thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng xuất khẩu là 1,2 Giáo trình Kinh tế phát triển, 2005. Khoa kế hoạch và phát triển, ĐH Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản lao động 8 nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng với ý nghĩa so sánh tương đối phản ánh sự gia tăng xuất khẩu hàng hóa nhanh hay chậm giữa các thời kỳ được nghiên cứu”2.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa “Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa cho biết mức độ quan trọng của các đối tác xuất khẩu của một quốc gia. Thông qua việc nghiên cứu và phân tích cơ cấu thị trường xuất khẩu, các quốc gia có thể đề ra những biện pháp, chính sách nhằm tập trung tăng cường xuất khẩu vào thị trường mục tiêu, phát huy tối đa được lợi thế so sánh của quốc gia trong trao đổi thương mại quốc tế. Sự cân bằng trong cán cân thương mại “Cán cân thương mại là sự đối chiếu giữa tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa với tổng giá trị nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia với nước đối tác trong một thời kỳ nhất định. Tình trạng của cán cân thương mại thâm hụt hay thặng dư thể hiện trạng thái của nền kinh tế.
Từ dữ liệu của cán cân thương mại có thể là cơ sở để đánh giá khả năng cạnh tranh của một nước trên thị trường quốc tế. Thâm hụt cán cân thương mại xảy ra khi có sự mất cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu khi kim ngạch nhập khẩu vượt quá kim ngạch xuất khẩu. Đối với các nước đang phát triển đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập kinh tế và đang thực hiện công nghiệp hóa thì thâm hụt cán cân thương mại là một hiện tượng khá phổ biến. Tuy nhiên, nếu tình trạng này diễn ra thường xuyên liên tục và kéo dài qua nhiều năm cho thấy sự phụ thuộc lớn của quốc gia đó đối với nước đối tác cũng như cho thấy sự hạn chế trong điều tiết kinh tế vĩ mô, đặc biệt lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa và nếu không có biện pháp khắc phục thì nền kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn khi các nước đối tác thay đổi chiến lược nhập khẩu của mình.
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 3,4 Giáo trình Kinh tế phát triển, 2005. Khoa kế hoạch và phát triển, ĐH Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản lao động 9 “Thông qua cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động xuất khẩu của một quốc gia. Nếu hàng hóa xuất khẩu chủ yếu các mặt hàng có giá trị gia tăng thấp, hàm lượng công nghệ ít sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu. Nguyên nhân là do các hàng hóa này chủ yếu dưới dạng thô, chưa qua chế biến sâu nên thường giá trị rất thấp, hơn nữa đây còn là nguyên nhân dẫn đến việc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước xuất khẩu.
Ngược lại, nếu phần lớn hàng hóa xuất khẩu là những hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, khi đó hoạt động xuất khẩu hàng hóa sẽ mang lại nguồn thu lớn và hiệu quả cho quốc gia đó. Thông qua cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng có thể thấy được sự phát triển của các quốc gia. Những quốc gia phát triển, có trình độ, khoa học hiện đại thì sẽ sản xuất và xuất khẩu nhiều những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao. Ngược lại, các nước đang phát triển và kém phát triển, lợi thế so sánh chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, sản phẩm mới chỉ qua khai thác, vì vậy hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là những hàng hóa có nguồn gốc từ thiên nhiên, chỉ qua sơ chế, thậm chí là sản phẩm thô.
Tổng quan về quan hệ thƣơng mại ASEAN- Trung Quốc 1. Lịch sử phát triển “Trung Quố c và các nước ASEAN có lich ̣ sử giao lưu lâu đời , là láng giềng gầ n gũi của nha.“Từ khi ASEAN thành lâ ̣p vào tháng 8 năm 1967 đến năm 1991 khi quan hê ̣ Trung Quố c - ASEAN được thiế t lâ ̣p chính thức , quan hê ̣ song phương đã trải qua chặng đường phát triển từ đối lập hoài nghi đến trở thành quan hệ đối tác chiế n lươ ̣c đố i thoa ̣i và hơ ̣p tác , lấ y bình đẳ ng , láng giềng hữu nghị , tin câ ̣y lẫn nhau làm nề n tảng. Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, hầu hết các nước ASEAN vần còn lo ngại về mối đe dọa từ Trung Quốc nên đã hợp tác chủ yếu với các nước phương Tây. Do vậy, quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc hầu như chưa có gì khởi sắc.
Từ những năm 1980 và nhất là sau khi Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ra đời năm 1995, 5 Giáo trình Kinh tế phát triển, 2005. Khoa kế hoạch và phát triển, ĐH Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản lao động 10 làn sóng hội nhập kinh tế khu vực đã bùng phát về cả mức độ, quy mô và phạm vi địa lý.”6 “Cuô ̣c khủng hoảng tài chin ́ h tiề n tê ̣ Châu Á xảy ra năm 1997 chính là bước ngoă ̣t quan tro ̣ng trong quan hê ̣ thương mại giữa Trung Quố c và ASEAN. Trung Quố c đã khôi ph ục tình hình kinh tế khó khăn , không phá giá đồ ng Nhân dân tê ̣ và đã viê ̣n trơ ̣ cho các nước thành viên ASEAN bi ̣tác đô ̣ng của cuô ̣c khủng hoảng. Chính từ đây , ASEAN đã bắ t đầ u ghi nhâ ̣n và tin tưởng rằ ng nề n kinh tế Trung Quố c ngày cà ng lớn ma ̣nh và Trung Quốc trở thành đối tác quan tro ̣ng đố i với Đông Nam Á khi Trung Quố c sẵn sàng viê ̣n trơ ̣ trong giờ phút then chố t cho các nước ASEAN.
Năm 2001, Trung Quố c đã đề xuấ t ý tưởng về việc xây dựng Khu vực mâ ̣u dịch tự do Trung Quố c -ASEAN trong thời gian 10 năm.