Chương 1: Đặc điểm thị trường dệt – may Hoa Kỳ và các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ. Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƢỜNG DỆT – MAY HOA KỲ VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT – MAY VIỆT NAM Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có trên 296 triệu dân (năm 2005) và là một thị trường có sức mua rất lớn, với nhu cầu phong phú và đa dạng. Có thể nói đây là thị trường rất hấp dẫn và có nhiều tiềm năng đối với các nước trên thế giới. Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được Quốc hội hai nước phê chuẩn và chính thức đi vào thực hiện ngày 10/12/2001 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ thương mại giữa hai nước.
Việc thực hiện Hiệp định Thương mại đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới trên thị trường Mỹ, mở rộng thị trường xuất khẩu, phát triển quan hệ với các đối tác Mỹ. Trong hoạt động kinh doanh quốc tế, điều quan trọng đối với các doanh nghiệp là phải tìm hiểu kỹ và nắm vững được môi trường kinh doanh, để đưa ra chính sách kinh doanh thích ứng và tạo được lợi thế cạnh tranh. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu hàng dệt – may nói riêng, khi muốn tham gia kinh doanh trên thị trường Mỹ phải nắm vững các đặc điểm kinh doanh, cũng như phải hiểu rõ các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình, để có thể xây dựng chính sách kinh doanh, xuất khẩu vào thị trường này có hiệu quả.1 Có môi trƣờng và điều kiện kinh tế cho một thị trƣờng hàng dệt may đa dạng Hiện nay Mỹ giữ vai trò chi phối gần như tuyệt đối trong các tổ chức tài chính, kinh tế thế giới như Ngân Hàng Thế Giới (WB), Quỹ Tiền Tệ Quốc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mỹ có một nền kinh tế lớn nhất thế giới với nhiều ngành nghề đa dạng, có tính cạnh tranh cao, bao gồm nhiều lĩnh vực từ khu vực có giá trị gia tăng cao đến khu vực trung bình, và là một trong những nền kinh tế tự do nhất thế giới.
Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu của Mỹ rất sôi động. °Về quy mô kinh tế: Hiện nay và trong một số thập kỷ nữa, Mỹ vẫn là nước có nền kinh tế lớn nhất và có sức cạnh tranh nhất trên thế giới. Năm 2005, tổng thu nhập quốc dân của Mỹ đạt khoảng 12.000 tỷ USD, chiếm khoảng 1/3 GDP của thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP là 3,5%. [25, Tr24] Đó là một tổ hợp gồm hơn 20 triệu công ty lớn nhỏ trong đó có nhiều công ty xuyên quốc gia với doanh số từ vài chục tỷ đến một, hai trăm tỷ USD.
Mặc dù cũng có lúc gặp khó khăn, khủng hoảng nhưng nhìn chung Hoa Kỳ vẫn luôn là nước dẫn đầu về kinh tế thế giới, về sản xuất cũng như trao đổi hàng hóa. °Về cơ cấu kinh tế: Hiện nay có tới 80% GDP được tạo ra từ các ngành dịch vụ, trong khi đó công nghiệp chiếm 18% và nông nghiệp chỉ chiếm 2%. °Về tốc độ tăng trưởng: Kể từ thập kỷ 90 trở lại đây, Mỹ đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 3,6%. Tuy nhiên tốc độ tăng GDP thực tế của Mỹ từ năm 2000 trở lại đây không ổn định và thấp hơn so với mức bình quân của thập kỷ 90.
Cụ thể năm 2001 là 0,5%, năm 2002 là 1,6%, năm 2003 là 2,7%, năm 2004 là 4,2% và năm 2005 là 3,5%. [25,27] °Về ngoại thương: Xuất khẩu : Mỹ là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới. Năm 2004, Mỹ xuất khẩu hàng hóa đạt 795 tỷ USD. Các mặt hàng xuất khẩu chính: hàng công nghiệp chiếm 26,8%, sản phẩm nông nghiệp chiếm 9,2%, tư liệu sản xuất chiếm 49%, hàng tiêu dùng chiếm 15%.[25, 27] Trong chính sách xuất khẩu, Mỹ chủ trương sản xuất những mặt hàng và dịch vụ mà nước khác không thể sản xuất được, tập trung mạnh vào những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ngành tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, cần nhiều công nghệ tinh vi phức tạp.
Nhập khẩu : Mỹ cũng đứng đầu thế giới với tổng mức nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ năm 2004 là 1. Trong đó, nhập sản phẩm nông nghiệp chiếm 4,9%, nguyên liệu cho công nghiệp chiếm 32,9%, tư liệu sản xuất chiếm 30,4%, hàng tiêu dùng chiếm 31,8%. [25, 27] Bên cạnh những loại hàng hoá cao cấp, Mỹ còn chủ trương nhập khẩu hàng hóa rẻ, tốn nhiều sức lao động từ bên ngoài nhằm có được những sản phẩm tiêu dùng giá thấp, đáp ứng nhu cầu của người nghèo và tầng lớp trung lưu. Từ đó làm giảm lạm phát, tăng sức mua của người dân.
Đây là cơ hội rất lớn cho sản phẩm của ngành dệt may từ những nước đang phát triển như Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Tóm lại, về mặt kinh tế, địa vị siêu cường của Mỹ được xây dựng trên cơ sở nền kinh tế khổng lồ. Về mặt thương mại, Mỹ là thị trường lớn nhất thế giới với những phân đoạn thị trường rất đa dạng có thể thu hút và tiêu thụ rất nhiều chủng loại hàng hóa khác nhau. Có thể nói, Mỹ là thị trường lý tưởng cho các công ty và doanh nghiệp trên khắp thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đặc biệt, đối với những sản phẩm sử dụng nhiều sức lao động như sản phẩm của ngành ngành dệt may.2 Thị trƣờng hàng dệt may có môi trƣờng văn hóa xã hội thích hợp để phát triển - Về cấu trúc gia đình : Trong vài thập kỷ gần đây, cấu trúc gia đình Mỹ đã trải qua cuộc cách mạng với những thay đổi lớn để lại dấu ấn trong đời sống xã hội. Cuộc sống phát triển cao, cường độ lao động căng thẳng, vai trò cá nhân và sự cơ động đã làm cho người Mỹ thay đổi về căn bản quan điểm về mô hình gia đình truyền thống. Theo những số liệu của cuộc điều tra mới đây, số người trung bình trong gia đình Mỹ đã giảm xuống đáng kể. Số người trong gia đình giảm, số phụ nữ tham gia lực lượng lao động tăng lên làm cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 mức chi tiêu cho các sản phẩm dệt may tăng tương ứng.
Các sản phẩm như quần áo thời trang, đồ thể thao, các sản phẩm trang trí nhà cửa như rèm, thảm … tiêu thụ rất mạnh. - Về đặc điểm nhân khẩu học : thanh thiếu niên Mỹ ngày nay, thế hệ con cái của những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số những năm 1946 – 1964 đang nhanh chóng trở thành lớp người tiêu dùng mới. Lứa thanh thiếu niên ngày nay có thu nhập cao hơn của bố mẹ và chi tiêu nhiều hơn so với lớp thanh thiếu niên của thế hệ trước. Họ chi tiêu cho mua sắm quần áo rất lớn.
Lứa tuổi này rất chú ý tới thời trang và “hàng hiệu”. Đồng thời, thế hệ thanh thiếu niên mới có được sự giáo dục cao nên họ thích ứng rất nhanh với những phương thức mua bán hàng mới như mua hàng trực tuyến (qua internet) cũng như nhanh chóng hấp thụ những dòng thời trang mới. Điều này tạo điều kiện cho những công ty buôn bán hàng dệt may mở rộng hình thức phân phối và giới thiệu sản phẩm mới, đồng thời chu kỳ sống sản phẩm sẽ ngắn đi và mẫu mã sẽ phải thay đổi nhanh chóng hơn trước kia. Do đó, đây là thách thức không nhỏ đối với ngành dệt may Việt Nam, khi thiết kế thời trang và mẫu mã đang là khâu yếu nhất của chúng ta.
Lứa tuổi từ 45 trở lên ở Mỹ chiếm 38% dân số, dự đoán sẽ tăng lên 41% vào năm 2010. Những người tiêu dùng thuộc lứa tuổi này có xu hướng tiết kiệm hơn, dù họ kiếm ra nhiều tiền. Bởi vì, họ còn phải dành phần lớn nguồn thu nhập lo cho con cái học đại học, trả tiền mua nhà và tiết kiệm khi về hưu. Tuy nhiên, những người thuộc lớp này là nhóm người chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng mức tiêu thụ quần áo.
Họ thường quan tâm tìm kiếm những sản phẩm đáp ứng được những giá trị mà họ mong muốn với giá cả phù hợp. Số lượng người từ 65 tuổi trở lên ở Mỹ đang gia tăng, đây là tín hiệu tốt cho các nhà sản xuất hàng dệt may. Nhóm người này ít quan tâm đến thời trang mà chỉ chú ý nhiều đến sự thoải mái, tiện lợi và giá cả sản phẩm. Các sản phẩm như quần áo mặc ở nhà, các trang phục khi làm vườn, quần áo mùa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đông… rất được nhóm khách hàng này chú ý tìm mua.
Đây là điểm thuận lợi cho xuất khẩu dệt may Việt Nam, vì thế dệt may Việt Nam có thể tập trung khai thác nhóm khách hàng này do sản phẩm của chúng ta có lợi thế lớn về giá cả. - Văn hóa trong giao tiếp, hợp tác kinh doanh của người Mỹ Người Mỹ đặc biệt coi trọng sự đúng giờ trong các cuộc hẹn. Do đó, việc trễ hẹn làm các doanh nhân Mỹ tỏ ra rất khó chịu. Đặc điểm nổi bật trong cách thương lượng của doanh nhân Mỹ là sự nhanh chóng đi vào ngay mục đích chính của cuộc gặp, loại bỏ những lời lẽ rườm rà không cần thiết.
Ngoài lý do tiết kiệm thời gian thì lý do chính là doanh nhân Mỹ muốn định đoạt nhanh chóng thương vụ. Do thương lượng nhanh dễ xảy ra rủi ro nên doanh nhân Mỹ thường đưa ra hợp đồng soạn sẵn. Trong hợp đồng đã chuẩn bị trước này, họ cố gắng khéo léo đưa vào những điều khoản ràng buộc chặt chẽ về số lượng, chất lượng và thời gian giao hàng cũng như các điều khoản khác có lợi cho họ. Vì vậy, để tránh những khó khăn có thể phát sinh các nhà xuất khẩu dệt may Việt Nam cần phải đọc thật kỹ và hiểu thấu đáo những điều khoản do thương nhân Mỹ lập ra.
Trường hợp thấy bất ổn phải thương lượng để điều chỉnh cho tới khi đạt được như ý muốn thì mới ký kết. Thương lượng với doanh nhân Mỹ không chỉ khó về số lượng đơn hàng thường rất lớn, về thời gian giao hàng chặt chẽ mà còn khó vì yêu cầu chất lượng.