chương 1 với mục đích nhằm đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về bài nghiên cứu của tác giả bao gồm một số nội dung chính sau. Thứ nhất, đưa ra những cơ sở lý luận sơ khởi nhằm thấy được tính cấp thiết, tính mới của đề tài đối với khu vực ASEAN và lịch sử nghiên cứu của đề tài. Thứ hai, phác họa lên bức tranh nghiên cứu, phân tích đánh giá các nghiên cứu tiền nhiệm có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Thứ ba, nêu lên mục đích chính của bài nghiên cứu và những mục tiêu cần đạt được nhằm hướng đến mục đích.
Thứ tư, làm rõ đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, từ đó đặt ra câu hỏi nghiên cứu chính cho bài. Cuối cùng, tác giả đề xuất một số phương pháp nhằm đặt được mục đích nghiên cứu và nêu lên những đóng góp và ý nghĩa của bài nghiên cứu đối với xã hội, chính phủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu. Một số định nghĩa và cách đo lường 2. Hiệu suất xuất khẩu (Export performance) Hiệu suất xuất khẩu là một chỉ số đánh giá tương đối mức độ thành công hoặc thất bại của những nổ lực của một doanh nghiệp thông qua việc thực hiện các hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch vụ sang quốc gia khác (Hailegiorgis Biramo Allaro, 2011).
Hay theo một cách khác, hiệu suất xuất khẩu là kết quả của các hoạt động doanh nghiệp ở thị trường xuất khẩu (Shoham, 1996). Sousa (2004) đã nhận diện ra rằng có khoảng 50 cách để có thể biểu thị được chỉ số hiệu suất xuất khẩu, tuy nhiên nhìn chung đươc phân chia thành hai nhóm chính: - Thứ nhất sử dụng các chỉ số về kinh tế như: cường độ xuất khẩu (export intensity), tốc độ phát triển của doanh thu xuất khẩu (export sales growth), lợi nhuận, các hoạt động marketing,…; - Thứ hai sử dụng các chỉ số phi kinh tế như: sản phẩm, thương hiệu, thị trường, sự hài lòng của khách hàng,… 2. Cường độ xuất khẩu (Export Intensity) Cường độ xuất khẩu là một chỉ số kinh tế nhằm việc đánh giá hiệu xuất hoạt động xuất khẩu. Trong đó, chỉ số này được đo lường thông qua tỷ lệ giữa doanh thu trong hoạt động xuất khẩu (bao gồm các hoạt động xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp) trên tổng doanh thu mà doanh nghiệp thu được trong cùng một khoảng thời gian xem xét, thường là một năm (Calof , 1994; Salomon và Shaver, 2005).
Nguyên nhân lựa chọn cường độ xuất khẩu là đối tượng trung tâm nghiên cứu: - Thứ nhất, tỷ lệ này thường xuyên được sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu suất xuất khẩu theo đánh giá gần đây Antonio Majocchi và cộng sự (2005). Ngoài ra, theo thống kê Katsikeas và cộng sự (2000), trong 23 yếu tố sử dụng các chỉ số về kinh tế để đánh giá hiệu suất xuất khẩu, có 57 nghiên cứu (chiếm tỷ trọng cao nhất đạt 61%) sử dụng yếu tố cường độ xuất khẩu để biểu thị cho hiệu suất xuất khẩu. Việc sử dụng chỉ số cường độ xuất khẩu làm đối tượng chính giúp cho tác giả dễ dàng so sánh, đối chiếu kết quả với các bài nghiên cứu tiền nhiệm; - Thứ hai, Estrin và cộng sự (2008), đưa ra những lập luận rằng các yếu tố quan trọng để xây dựng chiến lược hoạt động của doanh nghiệp trong đó có cường độ xuất khẩu được đánh giá thể hiện chi tiết và hiệu quả hơn thay vì định hướng 12 xuất khẩu. Tuy nhiên, để hoạch định một các rõ ràng và chi tiết cho các chiến lược khác nhau của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, trước hết cần phải phân tích về định hướng xuất khẩu của doanh nghiệp nhằm đưa ra các nhìn tổng quan trước khi chi tiết vào cường độ xuất khẩu.
Định hướng xuất khẩu (Export propensity) Định hướng xuất khẩu xem xét liệu doanh nghiệp có tham gia vào hoạt động xuất khẩu hay không (Calof, 1994; Salomon và Shaver, 2005). Estrin và cộng sự (2008) cho rằng định hướng xuất khẩu được liên kết chặt chẽ với tài nguyên và nguồn lực thực có của doanh nghiệp một cách tương đối. Yếu tố này đặc trưng nhằm phân chia ra các doanh nghiệp hai nhóm bao gồm doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu và doanh nghiệp không có hoạt động xuất khẩu, từ đó làm tiền đề để xem xét về cường động xuất khẩu. Vai trò của cường độ xuất khẩu Cường độ xuất khẩu đối với doanh nghiệp có các vai trò sau: - Thứ nhất, là một chỉ số so sánh giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp khác.
Cường độ xuất khẩu thể hiện tỷ trọng các hoạt động thương mại quốc tế so với toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó thấy được vị thế tương đối của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác nhằm nhận ra được những điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp từ đó đề ra kế hoạch kinh doanh một cách phù hợp. Trong thống kê Katsikeas và cộng sự (2000); nghiên cứu Schlegelmilch và Crook (1988) chứng minh và thể hiện đánh giá hiệu suất xuất khẩu thông qua cường độ xuất khẩu là một thước đo để có so sánh mức độ tham gia vào hoạt động xuất khẩu giữa các doanh nghiệp; - Thứ hai, là một chỉ số so sánh giữa mục tiêu và hiện tại của doanh nghiệp. Nghiên cứu của Cavusgil và Zou (1994), tác giả cho rằng cường độ xuất khẩu có thể là xem như một chỉ số nhằm giúp cho doanh nghiệp có những chiến lược phản ứng kịp thời khi giá trị này không đạt được mức ban đầu mà doanh nghiệp đã hoạch định trước đó. Từ đó lên kế hoạch kiểm tra và thay đổi nhằm đi đúng lộ trình đề ra thông qua cách quản lý doanh nghiệp và sự tương tác giữa các nguồn lực bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, phân bổ nguồn lực nhằm tạo nên sự phù hợp giúp cho doanh nghiệp hoạt động vận hành hợp lý, loại bỏ hay giảm thiểu một số chi phí như chi phí vận hành, lưu kho, vận chuyển,…; - Thứ ba, chỉ số cường độ xuất khẩu cho thấy mức độ hội nhập của một quốc gia vào thị trường quốc tế.
Đây là muột nguồn lực quan trọng và một kiến thức cần 13 được tranh bị khi các doanh nghiệp hoạt động ở thị trường nước ngoài Ellis và cộng sự. Các cơ sở lý thuyết liên quan đến tác động của các đặc điểm doanh nghiệp đến cường độ xuất khẩu 2. Lý thuyết nguồn lực (The Resource-Based View Theory- RBV) Với góc quan sát từ bên trong nội tại doanh nghiệp nhìn ra bên ngoài, lý thuyết Resource-Based View đã đưa ra những quan điểm và giải thích cụ thể lý do tại sao một doanh nghiệp thành công hay thất bại trên thị trường (Dicksen, 1996). Trong đây, lý thuyết này hoàn toàn ủng hộ lý thuyết lợi thế so sánh (The Competitive Advantage Theory - Barney, 1991), cho rằng khi các doanh nghiệp sở hữu những nguồn tài nguyên có 4 yếu tố “VRIN” bao gồm: tính có giá trị (Valuable); tính khan hiếm (Rare); không thể hoặc khó sao chép được (Imperfect Imitability) và không thể thay thế được (Non-Substitutability).
Những tài nguyên này giúp cho doanh nghiệp phát triển và duy trì được những lợi thế so với các doanh nghiệp khác, từ đó tận dụng lợi thế và nguồn lực cạnh tranh này giúp cho doanh nghiệp gia tăng hiệu suất một các vượt trội và phát triển một cách bền vững (Collis và Montgomery, 1995; Grant, 1991), Dựa trên The Resource- Based View, để đạt hiệu suất cao duy trì một cách bền vững và lợi thế cạnh tranh của bất kỳ doanh nghiệp nào đều là “kết quả của sự kết hợp hợp lý hoạt động quản lý, tích lũy và triển khai nguồn lực một cách chọn lọc, yếu tố những ngành hàng chiến lược và yếu tố thị trường không hoàn hảo” (Oliver, 1997). Để đối mặt với thách thức trong thị trường cạnh tranh, các doanh nghiệp cần thu thập nhiều nguồn tài nguyên và biến đổi để tạo ra những lợi thế cụ thể vững chắc cho doanh nghiệp (Grant, 2002). Lý thuyết RBV làm nổi bật tác động của tính không đồng nhất doanh nghiệp hơn so với tác động đặc điểm môi trường bên ngoài đến các hoạt động doanh nghiệp cả ở thị trường địa phương và quốc tế. Các nguyên lý nguồn lực xem xét về tính không nhất quán của doanh nghiệp và tài nguyên cố định của doanh nghiệp được coi là có thể áp dụng trong quá trình quốc tế hóa doanh nghiệp và tác động đến hiệu suất xuất khẩu (Knight và Cavusgil, 2004; Tan và Mahoney, 2005).
Các doanh nghiệp trong cùng một ngành dự kiến sẽ thể hiện mức độ khác nhau về hiệu suất quốc tế do sự khác biệt về tài nguyên mà họ sở hữu. Đây chính là điểm khác biệt của lý thuyết so với MBV (Market-based view), RBV đánh mạnh vào riêng đối với từng doanh nghiệp hơn so với lý thuyết Market- based view nghiên về tính chung của toàn thị trường. 14 Các quan điểm của lý thuyết RBV là một lý thuyết rất phù hợp, và đặc biệt hỗ trợ khung nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu về hiệu suất xuất khẩu thường được thể hiện thông qua chỉ số cường độ xuất khẩu. Lý thuyết này phân tích chi tiết về những giải thích hiệu suất xuất khẩu có tương quan với yếu tố đặc điểm ở nhiều cấp độ trong doanh nghiệp.
Trong đây, lý thuyết nhấn mạnh về khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp chịu tác động của các cách kết hợp và liên kết giữa các nguồn lực của nhằm tạo ra sự khác biệt so với doanh nghiệp khác. Do đó, các doanh nghiệp cần phải tận dụng một các hiệu quả các nguồn lực để tăng lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp từ đóng góp nâng cao cường độ xuất khẩu. Tóm lại, lý thuyết RBV đã đưa giả thuyết rằng tài nguyên quý hiếm và có giá trị là nhân tố quan trọng tạo thành cơ sở cạnh tranh lợi thế, ở cả thị trường quốc tế và trong nước. Cụ thể, trong nghiên cứu của tác giả Gaur và cộng sự (2014) thực hiện trên mẫu 10.000 doanh nghiệp Ấn Độ được thu thập trong giai đoạn 1989-2005 hay nghiên cứu Yiu và cộng sự, (2007) thực hiện trên mẫu nghiên cứu 565 doanh nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2004, cả hai đều chỉ ra rằng sự kết hợp của các nguồn tài nguyên, tận dụng hiệu quả và phát triển khả năng trong doanh nghiệp đã giúp nâng sự thành công của các doanh nghiệp trong thị trường quốc tế bằng chứng qua chỉ số cường độ xuất khẩu.
Hai nghiên cứu trên đồng thời cùng xác nhận rằng lý thuyết nguồn lực hoàn toàn phù hợp với các quốc gia đang phát triển.