Chương I. Những vấn đề chung về xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng Chương II. Thực trạng quy định pháp luật và xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng Chương III. Quan điểm, giải pháp bảo đảm xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
NHỮNG VẪN ĐỀ CHUNG VỀ XỬ LÝ HÀNH VI KHÁC VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1. Quan niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam 1. Quan niệm, phân loại hành vi khác vi phạm pháp luật phòng, chống tham nhũng 1. Quan niệm về hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng Theo đại từ điển tiếng Việt thì hành vi được hiểu là “cách ứng xử trong một hoàn cảnh nhất định được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định” 32, tr 781.
Trong khoa học pháp lý hành vi vi phạm pháp luật được quan niệm là “một dạng hành vi pháp luật thể hiện ở hành vi của cá nhân, tổ chức, cơ quan không tuân thủ nghĩa vụ do pháp luật quy định (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật) hoặc đã làm những việc mà pháp luật cấm gây thiệt hại hoặc dẫn đến nguy cơ gây thiệt hại cho các lợi ích khác nhau” 9, tr 324. Có thể hiểu hành vi vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Do đó để xác định đó có là hành vi vi phạm pháp luật hay không, chúng ta phải xác định hành vi đó trong các yếu tố cấu thành như: + Hành vi đó là hành vi trái pháp luật, Hành vi trái pháp luật được hiểu là việc thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật, được thể hiện dưới một trong ba dạng hành vi sau: Thực hiện hành vi mà pháp luật cấm; Không thực hiện hành vi mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện; Thực hiện hành vi vượt quá phạm vi pháp luật cho phép thực hiện. 8 + Thực hiện hành vi có lỗi của chủ thể, lỗi là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm phản ánh chủ thể đã lựa chọn thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi có đủ điều kiện lựa chọn thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội, hoặc lỗi cũng thường được hiểu là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
+ Đó là hành vi của chủ thể có năng lực hành vi, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì năng lực hành vi của cá nhân quy định như sau: người từ đủ mười sáu tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi vi phạm hành chính; người từ đủ mười bốn tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý, phải chịu trách nhiệm hành chính do cố ý thực hiện vi phạm hành chính. Ngoài điều kiện về độ tuổi, người có năng lực hành vi phải là người có trạng thái thần kinh bình thường, không mắc bệnh tâm thần hay căn bệnh khác mà không điều chỉnh được hành vi của mình. + Hành vi đó xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Trên cơ sở đó có thể thấy hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng có những yếu tố cấu thành như sau: + Hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng là hành vi trái pháp luật về phòng, chống tham nhũng.
Trước đây, Pháp lệnh về phòng, chống tham nhũng năm 1990, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012 đã có những quy định về các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng những không quy định chung vào trong một điều cụ thể. Hiện nay, hành vi này vi phạm các quy định tại Điều 94, 95 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; + Hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng là hành vi được thực hiện một cách có lỗi của các chủ thể; 9 + Hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng là hành vi vi phạm của các chủ thể có năng lực hành vi. Trước đây, các chủ thể có trách nhiệm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng có thể bị xử lý vi phạm pháp luật khác, thường tập trung trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước. Hiện nay, các chủ thể này bao gồm cả doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước (công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện).
+ Hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật phòng, chống tham nhũng bảo vệ. Như vậy, có thể quan niệm hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng là hành vi trái pháp luật, do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện một cách có lỗi, vi phạm trong việc thực hiện các quy định về phòng, chống tham nhũng theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành mà không phải là hành vi tham nhũng. Phân loại hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng Có nhiều cách phân loại hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng khác nhau, dựa trên mỗi tiêu chí thì sẽ có các dạng hành vi cụ thể. Có thể phân loại các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng dựa trên các tiêu chí như khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước; dựa trên chức vụ, quyền hạn của người có hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng; dựa trên hậu quả của hành vi vi phạm.
Thứ nhất, dựa trên tiêu chí về khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước thì có thể phân loại thành hai nhóm chính về hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng bao gồm các hành vi vi phạm pháp luật về 10 phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, và hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp tổ chức khu vực ngoài nhà nước, cụ thể: (i) Hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị bao gồm các hành vi sau: - Vi phạm quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; - Vi phạm quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ; - Vi phạm quy định về quy tắc ứng xử; - Vi phạm quy định về xung đột lợi ích; - Vi phạm quy định về chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn - Vi phạm quy định về nghĩa vụ báo cáo về hành vi tham nhũng và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng; - Vi phạm các quy định về kiểm soát tài sản thu nhập: + Vi phạm quy định về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm; + Vi phạm quy định về thời hạn kê khai tài sản, thu nhập hoặc vi phạm quy định khác về kiểm soát tài sản, thu nhập. (ii) Hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước bao gồm các hành vi sau: - Vi phạm nguyên tắc công khai, minh bạch, nội dung công khai, minh bạch, hình thức công khai, trách nhiệm thực hiện việc công khai, minh bạch; - Vi phạm về kiểm soát xung đột lợi ích; - Vi phạm trách nhiệm, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu. 11 Thứ hai, dựa trên chức vụ, quyền hạn của người có hành vi vi phạm, có thể phân loại các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng bao gồm hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng của người giữ chức vụ, quyền hạn và của người không giữ chức vụ quyền hạn. Tuy nhiên, nếu phân loại theo tiêu chí này thì các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng đều có thể do người có chức vụ, quyền hạn và người không có chức vụ, quyền hạn đều vi phạm như vi phạm quy tắc ứng xử, vi phạm về công khai, minh bạch.
hoặc có những hành vi vi phạm chỉ có người có chức vụ, quyền hạn vi phạm như việc chuyển đổi vị trí công tác, do đó việc phân chia các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng theo tiêu chí này là không phù hợp. Thứ ba, dựa theo hậu quả của hành vi vi phạm, chúng ta có thể phân loại thành hành vi vi phạm phải xử lý hình sự, hành vi vi phạm phải xử lý hành chính, hành vi vi phạm phải xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, cách phân loại này cũng không phù hợp bởi đối với mỗi hành vi vi phạm thì đều có nguy cơ bị xử lý hình sự, xử lý hành chính, xử lý kỷ luật. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 59/2019/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng tập trung xử lý vi phạm trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng và các vi phạm quy định khác như chế độ báo cáo, trong đó tiếp cận từ hai góc độ đó là xử lý đối với các chủ thể khu vực nhà nước và đối với các chủ thể khu vực ngoài nhà nước.
Quan niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của việc xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng 1. Quan niệm về xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng 12 Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đó công dân sống và làm việc theo pháp luật, mọi hành vi vi phạm pháp luật cần phải được phát hiện và xử lý mà không có sự phân biệt giữa người dân, cán bộ, công chức, viên chức.