CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ KỸ THUẬT TRUYỀN HÌNH 1.1 TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN HÌNH 1.1 Lịch sử phát triển : Lịch sử công nghệ truyền hình gắn liền với sự phát triển không ngừng của các công nghệ truyền hình, lịch sử phát triển cũng chính là quá trình cạnh tranh khốc liệt giữa các công nghệ. Từ những năm đầu của thập niên 30 là những ngày đầu tiên công nghệ truyền hình mới ra đời, đã nổ ra cuộc chiến quyết liệt giữa công nghệ của 2 nhà bác học Braid (Anh) và Macconi (Ý). Bác học Braid đã giới thiệu công nghệ truyền hình cơ khí dùng đĩa xoay Nipkow, trong khi đó thì Macroni đã phát triển công nghệ truyền hình điện tử. Tiếp theo sau cuộc chiến công nghệ truyền hình là cuộc chiến giữa các tiêu chuẩn truyền hình đen trắng, màu, các công nghệ ghi hình và các phương thức truyền dẫn, dẫn đến việc hình thành bản đồ về các chuẩn truyền hình trên thế giới, bản đồ này thay đổi hàng năm, nó thể hiện cuộc chạy đua đầy kịch tính giữa những công nghệ.
Chúng ta đã biết truyền hình đen trắng có nhiều tiêu chuẩn khác nhau và tivi đang được sử dụng tốt ở tiêu chuẩn kỹ thuật truyền hình này sẽ trở thành vô dụng nếu như chuyển sang sử dụng tiêu chuẩn khác. Người ta ký hiệu các tiêu chuẩn truyền hình đen trắng theo ký tự A, B,… M, N…, nhưng cũng có cách gọi thông dụng theo “lãnh địa” kỹ thuật truyền hình, vùng mà công nghệ đó chiếm ưu thế như hệ Mỹ- Nhật, hệ Liên Xô Đông Âu, hệ Pháp, hệ Anh… Trước đây hơn 10 năm, tại Tp Hồ Chí Minh chỉ có duy nhất một công nghệ truyền hình, theo tiêu chuẩn PAL D/K (trước đó là SECAM IIIB), khán giả có thể thu xem bằng tivi đen trắng hoặc là tivi màu bằng anten xương cá. Từ năm 1991, với sự xuất hiện của Công Ty Truyền Hình cáp Saigon Touris - SCTV, khán giả có thêm sự lựa chọn giữa 2 công nghệ truyền hình mới là MMDS (truyền hình viba) và CATV (truyền hình qua mạng cáp dây dẫn). Khi đó, CATV chỉ mới có ở một số tuyến đường, thì công nghệ MMDS đã thu hút được một lượng khán giả to lớn ở các quận trung tâm.
Hiện nay thì mạng cáp CATV của SCTV cũng đã được mở rộng và dần thể hiện ưu thế của nó. Cũng trong khoảng thời gian này thì một số cơ quan, đơn vị ở thành phố cũng bắt đầu sử dụng truyền hình vệ tinh. Những kiểu anten thu hình mới lạ bắt đầu xuất hiện trên những nóc nhà của thành phố, đó là công nghệ truyền hình vệ tinh TVRO. TVRO cùng với MMDS và CATV đã tạo nên bước đột phá đầu tiên trong sự phát triển công nghệ thu sóng truyền hình ở Tp HCM, đồng thời cũng tạo nên sự cạnh tranh giữa MMDS và TVRO.
Đến tháng 10/2004, thì Đài Truyền Hình Việt Nam triển khai công nghệ truyền hình số qua vệ tinh DTH có phạm vi phủ sóng toàn quốc. Đến tháng 5/2005, Đài Truyền Hình TPHCM đưa vào họat động hệ thống mạng cáp CATV và Hyper Cable, sau khi 2 kênh 7 và 9 lần lượt được phát qua vệ tinh theo công nghệ DVB-S, đồng thời Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghệ Truyền Hình Việt Nam VTC thuộc Bộ bưu chính viễn thông cũng lên sóng đài phát truyền hình số phủ sóng khu vực TPHCM. Như vậy, cuộc cạnh tranh về công nghệ truyền hình ở Việt Nam đã bắt đầu và hứa hẹn sẽ đem đến cho khán giả truyền hình những chương trình với chất lượng cao, hình ảnh đẹp và nhiều dịch vụ khác SVTH: NGUYỄN HÙNG CƯỜNG GVHD:TS.ĐINH SƠN TÚ 1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP XE TRUYỀN HÌNH LƯU ĐỘNG 1.2 Định hướng phát triển về vô tuyến truyền hình ở Việt Nam Hiện nay đang tiến hành xây dựng quy họach tổng thể truyền hình Việt Nam đến năm 2010, trong đó số hóa là mục tiêu quan trọng trong thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Lộ trình chuyển đổi sang mạng mạng phát sóng mặt đất: Tiếp tục duy trì mạng ohát sóng Analog hiện đã có và đang đầu tư theo kế họach cho tới khi 80% số hộ có máy thu số.
Giai đọan 1 (2000 – 2001): Nghiên cứu thực nghiệm, lựa chọn tiêu chuẩn phát sóng số. Ban hành tiêu chuẩn truyền hình số. Giai đọan 2 (2002 – 2004): Chấm dứt đầu tư mở rộng phát sóng tương tự vào 2003. Ban hành tiêu chuẩn phát sóng, qui họach tần số phát sóng.
Giai đọan 3 (2004 – 2006): Phát sóng số song song với phát sóng tương tự tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Giai đọan 4: (2006 – 2008): Dự kiến Vinh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ. Giai đọan 5 (2008 – 2010): Dự kiến Huế, Hà Giang, Cầu Đất, Tây Ninh. Giai đọan 6 (2010 – 2015): Phát sóng số trên tòan bộ mạng quốc gia.3 Quan điểm kỹ thuật: Có thể phát triển thêm và khả năng tương thích cao, tiêu chuẩn phát sóng số không được gây trở ngại cho việc qui họach mạng tần số.
Có khả năng sử dụng lại của hệ thống máy phát hình kỹ thuật tương tự. Có khả năng làm việc với các tỉ lệ khung hình 4:3 và 16:9. Sử dụng dòng dữ liệu theo tiêu chuẩn quốc tế (định dạng lấy mẫu 4:2:0, nén MPEG – 2 MP @ ML, có khả năng tương thích hoặc chuyển đổi lên xuống các lớp bậc thấp và cao, quan hệ giữa SDTV và HDTV).4 Tương lai của công nghệ truyền hình ở Việt Nam: Cùng với sự phát triển của thế giới, các Đài truyền hình ở Việt Nam hiện đang tiến hành xây dựng qui họach tổng thể cho đến năm 2010, trong đó công nghệ số là mục tiêu quan trọng trong thập kỹ đầu của thế kỹ 21 và xa hơn nữa là hòa nhập với sự phát triển chung của thế giới. Hiện nay việc đổi sang công nghệ số đối với truyền hình ở Việt Nam là một điều quan trọng và cấp bách bởi vì hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới đến trước năm 2010 đều chuyển sang phát sóng truyền hình số tòan bộ, bên cạnh đó thì nghành viễn thông trong nước cũng đã hầu hết số hóa mạng, nếu vẫn duy trì công nghệ analog thì truyền hình Việt Nam và nghành bưu chính viễn thông không thể hòa chung với hai lọai thiết bị khác nhau về công nghệ như hiện nay.
SVTH: NGUYỄN HÙNG CƯỜNG GVHD:TS.ĐINH SƠN TÚ 2 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP XE TRUYỀN HÌNH LƯU ĐỘNG 1.2 TỔNG QUAN VỀ CAMERA 1.1 NHIỆM VỤ CỦA CAMERA: Trong toàn bộ kỹ thuật truyền hình, camera thực hiện công đoạn đầu tiên: đổi ánh sáng của cảnh thành ra dòng điện tín hiệu hình hay là tín hiệu video. Video sau đó được ghi vào băng, đĩa hay truyền phát, phân tán đi khắp nơi.2 PHAN LỌAI CAMERA: Phân loại theo chất lượng: Camera độ nét cao (HDTV camera): đạt chất lượng truyền hình độ nét cao (HDTV = Hight Definition Television). Camera phát sóng (Broadcast camera): đạt chất lượng của truyền hình PAL-NTSC- SECAM và truyền hình số tiêu chuẩn thường (SDTV = Standard Definition Television), hay tiêu chuẩn truyền hình quảng bá (Broadcast TV). Camera chuyên dụng (Proffessional camera): thường để chỉ các camera không đạt một hay nhiều thông số của tiêu chuẩn phát sóng.
Camera dân dụng: đạt chất lượng của phần ghi băng (VCR) mà các camera này luôn có kèm theo. Chẳng hạn camera 8 mm, đạt chất lượng theo dạng thức của loại băng từ 8 mm.VHS đạt chất lượng như của băng S.VHS… Phân loại theo vùng nhìn: Studeo camera: Camera để dùng thu hình trong studeo với ánh sáng đèn. Loại camera này luôn được cấu tạo tách rời làm hai phần. Phần đầu gồm ống kính và bộ phận cảm quang…, gọi chung là đầu quay (camera head), đặt tại phòng quay.
Một camera man chỉ lo sử dụng đầu quay để lấy hình, đảm bảo chất lượng nghệ thuật của hình. Phần sau bao gồm bộ nguồn, các điều chỉnh, điều khiển…, gọi chung là CCU (Camera Control Unit), đặt tại phòng máy. Một người (chỉnh) video (video man) sẽ lo mọi điều chỉnh CCU, để đảm bảo chất lượng kỹ thuật hình. Studeo camera là loại có đẳng cấp chất lượng cao nhất, đặc điểm có rất nhiều điều chỉnh bằng tay (manual), rất ít khả năng tự động (auto).
Field camera, remote camera: Camera để dùng thu hình lưu động, hay thu hình ngoài trời. Loại camera này có đẳng cấp chất lượng tương đương với các studeo camera. Cấu tạo cũng gồm hai phần, nhưng với CCU nằm trong phòng máy của xe truyền hình lưu động. Đặc điểm đã có sẵn một khả năng tự động nhất định, ống kính thường dài để có thể thu hình cự ly xa, thật xa.
Portable camera, ENG,Camcoder…: Các loại camera xách tay, gọn nhẹ,để được sử dụng bởi một người duy nhất, dùng thu hình cả trong nhà lẫn ngoài trời cho mục đích lấy tin, du lịch…(ENG = Electronic New Gatherting). Các camera này thường có trang bị sẵn bộ phận ghi băng video lên băng, nên còn được gọi là CAMCODER (Camera Recoder). Đặc điểm có nhiều tự động, ống kính zoom tương đối ngắn, cự ly hoạt động chừng một hai chục mét. Phân loại theo ống kính: Khi chỉ quan tâm đến vùng nhìn,người ta phân biệt camera theo ống kính của nó.
Chẳng hạn nói “camera tele” tức là nói camera trang bị với ống kính dài để thu SVTH: NGUYỄN HÙNG CƯỜNG GVHD:TS.ĐINH SƠN TÚ 3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP XE TRUYỀN HÌNH LƯU ĐỘNG hình cự ly xa.“Camera zoom”trang bị với ống kính zoom và tùy theo cỡ zoom mà người quay có thể ước lượng cự ly thu hình.“Camera Wide”trang bị với ống kính rộng để thu hình trong nhà(cự ly gần). Phân loại theo đen trắng và màu: Trong camera đen trắng sẽ chỉ có thể có một đầu đọc, đọc ra một tín hiệu video đen trắng Y, phản ánh cường độ sáng của từng điểm hình. Trong camera màu sẽ phải có ba đầu đọc, cùng lúc đọc ra ba loại video là loại video đỏ, video lá cây, video lơ. Video đỏ phản ánh cường độ thành phần ánh sáng đỏ có trong từng điểm hình.
Tương tự, video lá cây và video lơ phản ánh thành phần ánh sáng lá cây và thành phần ánh sáng lơ có trong từng điểm hình. Camera màu sẽ cho ra hình màu, nhưng cũng có thể cho ra hình đen trắng bằng cách pha trộn ba loại video R,G,B nói trên theo các tỉ lệ thích hợp.3 CẤU TẠO TỔNG QUÁT CAMERA: Khối quang: Bộ phận chính của khối quang là ống kính (lens), giúp thu tóm và hội tụ ánh sáng của cảnh lên một mặt phẳng gọi là mặt bia. Nếu camera màu còn cần có thêm hệ thống lăng kính, chia chùm tia sáng (ra từ ống kính) thành ba đường đi riêng, để “đo” riêng ba thành phần màu R, G, B của từng điểm hình, trên ba mặt bia riêng. Ngoài ra còn có thể có nhiều loại lọc sáng (light filter) trên đường đi của chùm tia sáng.