Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học chủ đề tích hợp Chương 2. Xây dựng nội dung, thiết kế phương án dạy học tích hợp chủ đề “Ánh sáng” ở THPT Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP 1.Dạy học tích hợp 1.Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp.1 Khái niệm tích hợp` - Theo từ điển tiếng Việt [31] “Tích hợp nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập, sự kết hợp,, Theo từ điển tiếng Pháp thì nghĩa của từ “tích hợp” (Integrer) là: " gộp lại, sát nhập vào thành một tổng thể".Thế nào là dạy học tích hợp?( DHTH).Tháng 9-1968 dạy học tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”. Định nghĩa của UNESCO cho thấy dạy học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở học sinh (HS) những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp HS biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống.Như vậy, có thể hiểu tích hợp bao hàm cả nội dung và hoạt động. Khoa sư phạm tích hợp nhấn mạnh dạy cách phát huy sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau, được Xavier Roegiers [tr.
73] định nghĩa như sau: “Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước, những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Lí thuyết SPTH tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa. ” Nói một cách khác, dạy học tích hợp là dạy cho HS cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, và với mục đích phát triển năng lực người học. Ngoài ra, dạy học tích hợp còn tạo nên mối liên hệ giữa kiến thức và kĩ năng của các chuyên ngành hoặc các môn học khác nhau để bảo đảm cho HS phát huy có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình trong việc giải quyết các tình huống tích hợp cụ thể.
Ngoài các quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực, lí thuyết SPTH dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những động tác đã lĩnh hội một cách rời rạc. Mặc dù có các quan niệm khác nhau về dạy học tích hợp, song có thể thống 5 z nhất ở một tư tưởng: Dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm , ở đó người học huy động (mọi) nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp – có vấn đề nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân.Mục tiêu tích hợp Lí thuyết DHTH nhấn mạnh các mục tiêu sau 1. Làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa Bằng cách đặt quá trình học tập vào các hoàn cảnh (tình huống) để học sinh nhận thấy ý nghĩa của các kiến thức, kĩ năng, năng lực cần lĩnh hội. Điều đó có ý nghĩa to lớn tạo động lực học tập cho học sinh.
Trong quá trình học tập các kiến thức, kĩ năng, năng lực đều được huy động và gắn với thực tế cuộc sống. Nghĩa là: Không còn hai thế giới riêng biệt, thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống. Trái lại người ta tìm cách hòa nhập thế giới nhà trường vào thế giới cuộc sống. Do vậy, cần liên kết các môn học khác nhau trong nhà trường.
Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Phải lựa chọn các tri thức, kĩ năng cốt yếu xem là quan trọng đối với quá trình học tập của học sinh và dành thời gian, cũng như giải pháp hợp lí cho chúng. Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống Thể hiện cụ thể là: - Nêu bật cách thức sử dụng kiến thức đã lĩnh hội. - Tạo các tình huống học tập để học sinh vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tự lực để hình thành người lao động có năng lực, tự lập. Theo tư tưởng này, DHTH quan tâm không chỉ đánh giá những kiến thức mà học sinh lĩnh hội được, mà chủ yếu “đánh giá học sinh có khả năng sử dụng kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay không”.
Xavier Rogiers gọi khả năng như vậy của học sinh là năng lực hay còn gọi là mục tiêu tích hợp (MTTH). Lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học Ở đây DHTH hướng tới thiết lập mối quan hệ giữa các khái niệm khác nhau của cùng một môn học cũng như của các môn học khác nhau. Đây là tư tưởng sư phạm quan trọng: đào tạo HS có năng lực đáp ứng được thách thức lớn của xã hội ngày nay là học sinh có được khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một tình huống xuất hiện, hoặc có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp. 6 z Tư tưởng sư phạm đó gắn liền với việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học.
Những mức độ tích hợp trong dạy học. Dạy học tích hợp được bắt đầu với việc xác định một chủ đề cần huy động kiến thức, kỹ năng phương pháp của nhiều môn học để giải quyết vấn đề. Lựa chọn được một chủ đề mang tính thách thức và kích thích được người học dấn thân vào các hoạt động là điều cần thiết trong dạy học tích hợp. Có thể đưa ra 3 mức độ tích hợp trong dạy học như sau: - Lồng ghép/Liên hệ: Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của môn học.
Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ. Tuy nhiên, giáo viên có thể tìm thấy mối liên hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp. Dạy học tích hợp ở mức độ lồng ghép có thể thực hiện thuận lợi ở nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học. Các chủ đề gắn với thực tiễn, gắn với nhu cẩu của người học sẽ có nhiều cơ hội để tổ chức dạy học lồng ghép.1) thể hiện quan hệ giữa kiến thức của môn học (trục chính) với kiến thức của các môn học khác (các nhánh).
Môn… Môn… Môn… Môn… Môn… Môn… Môn… Hình 1. Sơ đồ xương cá Có thể lấy các ví dụ như lồng ghép nội dung về bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, bảo vệ chủ quyền biển đảo, … vào bài học. 7 z - Vận dụng kiến thức liên môn: Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người học cần vận dụng các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra. Các chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề hội tụ.
Với các môn học khác nhau, mối quan hệ giữa các môn học trong chủ đề được hình dung qua sơ đồ mạng nhện (Hình 1. Như vậy, nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống; mặt khác, vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học khác nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các chủ đề hội tụ. Môn… Môn… Môn… Môn… Môn… Môn… Hình 1. Sơ đồ mạng nhện Việc liên kết kiến thức các môn học để giải quyết tình huống cũng có nghĩa là các kiến thức được tích hợp ở mức độ liên môn học.
Có hai cách thực hiện mức độ tích hợp này: Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối học kỳ, cuối năm hoặc cuối cấp học có mọt phần, một chương về những vấn đề chung (của các môn khoa học tự nhiên hoặc các môn khoa học xã hội) và các thành tựu ứng dụng thực tiễn nhằm giúp học xinh xác lập mối quan hệ giữa các kiến thức đã được linh hội. 8 z Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học. Nói cách khác, sẽ bố trí xen một số nội dung tích hợp liên môn vào thời điểm thích hợp nhằm làm cho học sinh quen dần với việc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau. Ví dụ về sơ đồ tích hợp theo cách 2 như dưới đây: Vật lý 1 Thực hiện Vật lý 2 Thực hiện Vật lý 3 Thực hiện nhiệm vụ nhiệm vụ nhiệm vụ hoặc bài làm hoặc bài làm hoặc bài làm Hóa học 1 tích hợp 1 Hóa học 2 tích hợp 2 Hóa học 3 tích hợp 3 Sinh học 1 Sinh học 2 Sinh học 3 Đây là trường hợp phổ biến ở trường phổ thông hiện nay khi chương trình, sách giáo khoa, giáo viên dạy có sự phân hóa rõ rệt giữa các môn học.
- Hòa trộn: Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp. Ở mức độ này, tiến trình dạy học là tiến trình “không môn học”, nghĩa là nội dung kiến thức trong bài học không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau, do đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ. Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học. Ở mức độ hòa trộn, giáo viên phối hợp quá trình học tập những môn khác nhau bằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn, tạo thành các chủ đề thích hợp.
Trong quá trình thiết kế, sẽ có những chủ đề, trong đó, các năng lực cần hình thành được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ các nội dung của chủ đề mà không phải chỉ là một nội dung nào đó của chủ đề. Các năng lực này chính là các năng lực được hình thành xuyên môn học. Ví dụ, với các môn khoa học tự nhiên, đó là năng lực thực hiện các phép đo và sử dụng công cụ đo, năng lực khoa học.