đặt vấn đề rõ ràng, hướng dẫn HS quan sát, giải thích những vấn đề liên quan giữa nội dung bài học với hiện tượng thí nghiệm xảy ra, dẫn dắt để HS đi đến những kết luận khoa học hướng vào nội dung cơ bản của bài học. Kĩ năng thí nghiệm hoá học 1. Kĩ năng Có nhiều cách hiểu về kĩ năng: Theo Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản văn hoá thông tin 1998 định nghĩa: “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế”. Theo tác giả Lê Văn Hồng: “kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới”.
Theo tác giả Nguyễn Như An: “kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của một hành động sư phạm bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những cách thức, những qui trình hợp lí”.Đanhilop: “Kĩ năng là khả năng con người biết sử dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức của mình trong hoạt động lí thuyết cũng như thực tiễn. Kĩ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức và dựa trên kiến thức, kĩ năng chính là kiến thức trong hành động”. Như vậy kĩ năng là khả năng thực hiện một cách hợp lí những hành động trí tuệ và hành động chân tay trong những tình huống đã được thay đổi. Dấu hiệu đặc trưng của kĩ năng là nhận thức đầy đủ về mục đích của hoạt động và biết lựa chọn con đường đúng nhất, ngắn nhất để thực hiện.
Kĩ năng thực hành hoá học Kiến thức là cơ sở và nền tảng để hình thành kĩ năng, nhưng ngược lại việc nắm vững các kĩ năng sẽ có tác dụng trở lại giúp kiến thức linh hoạt, sống động hơn. Trong lí luận dạy học đã khẳng định rằng: Không có tri thức sẽ không có kĩ năng, không có việc áp dụng tri thức sẽ không đạt được sự phát triển của kĩ năng, ngược lại nếu chỉ có tri thức mà không có kĩ năng, không biết áp dụng tri thức thì những kiến thức đó sẽ trở thành vô dụng. Kĩ năng THHH bao gồm kĩ năng tiến hành thí nghiệm, kĩ năng sử dụng dụng cụ thí nghiệm, kĩ năng làm việc với hoá chất, kĩ năng làm BTHHthực nghiệm, kĩ năng ứng dụng hoá học trong thực tiễn…. Vai trò của kĩ năng thí nghiệm hoá học [51, 52] a/ Kĩ năng thực hành thí nghiệm hoá học đóng vai trò hết sức quan trong trong việc nghiên cứu và dạy hoá học.
Vì những lí do sau đây: - Hoá học là môn khoa học thực nghiệm và lí thuyết. Đặc trưng này quyết định bản chất phương pháp nhận thức hoá học đó là kết hợp thực nghiệm khoa học với lí thuyết, đề cao vai trò của giả thuyết, học thuyết, định luật hoá học. - Là nội dung kiến thức hoá học phổ thông. Đối tượng của hoá học là các chất tạo bởi nguyên tử, phân tử, hạt nhân nguyên tử, điện tử, ion… Chúng đều là những phần tử vi mô, không quan sát được bằng mắt thường.
Chúng lại tương ứng với những khái niệm trừu tượng HS cần phải lĩnh hội vững chắc. Phản ứng hoá học là sự phá vỡ phân tử của những chất ban đầu để tập hợp thành phân tử của những chất được tạo thành. Những diễn biến này cũng ở dạng vi mô. Đó cũng là những kiến thức cơ bản HS cần phải nắm vững.
Trong DHHH buộc phải dùng những mô hình cụ thể ở kích thước vĩ mô để diễn tả cấu tạo phân tử của các chất và cơ chế các phản ứng hoá học và dựa trên những biểu hiện bên ngoài của chúng giúp HS suy ra tính chất các chất và cấu tạo phân tử của chúng. Điều này đòi hỏi ở HS một trình độ phát triển nhất định của tư duy trừu tượng, một KN nhất định trong việc sử dụng mô hình, phương pháp mô hình hoá (kí hiệu, công thức, PTHH được xếp vào loại mô hình này). - Được xác định trong mục tiêu dạy học do vai trò đặc biệt quan trọng của việc hình thành và rèn luyện KN cho HS trong DHHH nên KN được xác định trong mục tiêu môn học, mục tiêu chương trình, mục tiêu từng chương, mục tiêu từng bài học cụ thể. Mục tiêu bao giờ cũng xác định gồm 3 thành tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ.
Trong dạy học từng bài học, tiết học cụ thể, giáo viên phải xác định rõ những KN cụ thể HS cần đạt được. b/ Các kĩ năng thí nghiệm có vai trò quan trọng đối với người giáo viên trong DHHH thể hiện ở một số điểm sau: - Có kĩ năng tốt sẽ giúp GV thực hiện thành công các thí nghiệm và sử dụng có hiệu quả phương tiện thiết bị dạy học. - Có kĩ năng tốt GV sẽ khai thác có hiệu quả hơn những thiết bị đã được trang bị; khắc phục sửa chữa những hỏng hóc, thay thế những chi tiết cần thay. Nhờ vậy kéo dài thời gian sử dụng, nâng cao hiệu quả giáo dục và kinh tế của thiết bị.
GV có thể cải tiến để thực hiện thí nghiệm đơn giản hơn, bảo đảm thành công. - Có kĩ năng tốt GV sẽ tự tin trong việc sử dụng TNHH để dạy học, tránh được cách dạy chay khô khan. GVsử dụng TNHH quen, thành nhu cầu không thể thiếu sẽ tạo điều kiện để GV áp dụng những phương pháp tích cực trong dạy học. Nắm vững KN giúp GV thực hiện các thí nghiệm kết quả tốt, nhanh, sử dụng có hiệu quả trong dạy học sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức.
- Kĩ năng tốt của GV sẽ là hình mẫu chuẩn mực cho HS noi theo, học tập, bắt chước để hình thành những KN thí nghiệm. Một số kĩ năng thí nghiệm hoá học cần rèn luyện của giáo viên [56] 1. Kĩ năng làm việc với một số dụng cụ thí nghiệm * Dụng cụ TNHH rất đa dạng, nhiều chủng loại, thường dựa vào vật liệu chế tạo, người ta chia thành các loại, theo danh mục thiết bị dạy học gồm: dụng cụ thuỷ tinh, dụng cụ chế tạo từ kim loại và các loại dụng cụ khác… * Một số điểm chung khi sử dụng dụng cụ thí nghiệm: - GV phải nhớ đúng tên, biết tính năng, tác dụng của từng loại dụng cụ. - Dùng dụng cụ đúng mục đích, chủng loại.
- Dụng cụ thí nghiệm trong PTN phải luôn sạch sẽ, bảo quản, bảo dưỡng thường xuyên, đúng qui cách với từng loại. - Khi làm thí nghiệm trong PTN thường dùng phối hợp các loại dụng cụ, phải kết hợp một cách hợp lí, hài hoà giữa các dụng cụ. Kĩ năng làm việc với hoá chất * Hoá chất trong PTN phổ thông đa số là những hoá chất thông dụng được chế tạo theo tiêu chuẩn dùng cho PTN, khá đa dạng về chủng loại. * Khi sử dụng và bảo quản hoá chất cần chú ý một số điểm chung sau: - Lọ hoá chất phải có nhãn mác rõ ràng.
Nhãn lọ hoá chất thường ghi tên hoá chất, CTHH, khối lượng hoặc thể tích, nồng độ (nếu là dung dịch), nơi sản xuất. Lọ hoá chất không có nhãn mác không được dùng. - Bảo quản hoá chất phải sắp xếp theo khu vực cho từng loại (chất rắn, chất lỏng, axit, bazơ, muối…) và thực hiện đúng qui định đối với từng loại, đặc biệt với các hoá chất độc, dễ gây cháy nổ, các chất cần chế độ bảo quản riêng. - Sử dụng hoá chất phải tiết kiệm hoá chất (làm với lượng nhỏ hoá chất), đọc kĩ nhãn mác, lấy đúng loại hoá chất cần dùng và thực hiện “3Đ” – 3 đúng (đúng loại, đúng lượng, đúng cách) 1.
Kĩ năng pha chế dung dịch Hoá chất được trang bị theo danh mục thiết bị dạy học đến các trường phổ thông phần lớn ở dạng khan, tinh thể nguyên chất hoặc dung dịch đặc. Vì vậy muốn sử dụng hoá chất để dạy học, GV và cán bộ thiết bị cần phải biết pha chế một số dung dịch đơn giản (như dd phenolphtalein, dd quì tím, nước vôi…), nắm được các kĩ năng hoà tan, lọc tách, kết tinh… cần thực hiện trong quá trình pha chế. Một số kĩ năng thí nghiệm hoá học cần rèn luyện cho học sinh [56] 1. Kĩ năng thực hiện an toàn và khoa học các nội qui, qui tắc thí nghiệm: HS phải nắm kĩ các nội qui của PTN, các qui tắc cơ bản trong thí nghiệm để đảm bảo an toàn khi làm thí nghiệm.
Do đó cần rèn luyện cho HS đức tính cẩn thận, nghiêm túc và có trách nhiệm khi tiến hành thí nghiệm. Chẳng hạn, khi làm việc với các dụng cụ thuỷ tinh dễ vỡ, làm việc với các hoá chất độc hại, dễ cháy, nổ, phát nhiệt…HS phải hết sức cẩn thận, biết cách xử lí khi xảy ra sự cố khi tiến hành thí nghiệm. Kĩ năng sử dụng một số dụng cụ thí nghiệm đơn giản: đèn cồn, cặp gỗ, giá sắt, ống nghiệm, ống đong, bình tam giác, bình cầu, phễu chiết, bình kíp, khí kế, chậu thuỷ tinh, các loại cân,…Đối với những dụng cụ đơn giản và thường dùng trong thí nghiệm, HS phải biết cách sử dụng và bảo quản để kết quả thí nghiệm cao và bảo đảm an toàn trong thí nghiệm. Sau đây là một số chú ý cho HS khi sử dụng các dụng cụ trên.
* Đèn cồn: - Không để cồn trong đèn khô kiệt, nếu đang đun phải tắt đèn rồi mới đổ thêm. - Không đổ cồn quá đầy, châm lửa từ đèn này sang đèn kia (vì dễ làm đổ cồn ra ngoài và bốc cháy). - Khi muốn tắt đèn cồn, không được dùng miệng thổi hay dùng tay quạt mà phải dùng nắp đèn cồn chụp lên ngọn lửa. * Ống nghiệm: - Khi dùng ống nghiệm phải rửa ống nghiệm sạch sẽ, để khô ráo để không gây ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm.
- Khi đun nóng ống nghiệm phải hơ nóng đều ống nghiệm trước rồi mới đun tập trung phần đáy ống nghiệm. Khi ống nghiệm còn nóng không được để ống nghiệm vào chậu nước hay là giá để bằng nhựa… - Khi thực hiện thí nghiệm trên giá, tùy vào thí nghiệm cụ thể mà lắp ống nghiệm thẳng đứng, hay nghiêng miệng hướng xuống dưới hay hướng lên trên. - Khi rửa ống nghiệm phải dùng cọ vừa với từng loại ống nghiệm, xoay tròn cọ theo thành ống nghiệm. Tùy vào loại hóa chất chứa trong ống nghiệm mà việc rửa ống nghiệm có thể dùng đến một số hóa chất khác… - Khi dùng cặp gỗ kẹp ống nghiệm là phải đưa cặp gỗ từ dưới đáy ống nghiệm lên đến 2/3 ống nghiệm.
Khi tháo cặp gỗ ra thì làm ngược lại. Cách kẹp ống nghiệm * Ống đong: - Khi đong, nên chọn ống đong nào có khối lượng gần nhất với khối lượng cần đong để có độ chính xác cao hơn.