CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHO VAY CHỨNG KHOÁN 1.KHÁI NIỆM THỊ TRƯỜNG CHO VAY CHUNG KHOAN 1. Định nghĩa cho vay chứng khoán: Cho vay chứng khoán là những hoạt động liên quan đến việc trao đổi chứng khoán giữa người đi vay chứng khoán với người cho vay theo đó người đi vay có nghĩa vụ phải hoàn trả lại đúng chứng khoán đó với khối lượng tương đương trong tương lai vào một thời điểm nhất định. Giao dịch này có một số những đặc điểm sau: ® Người đi vay chứng khoán (sau đây gọi tất là người đi vay) được đứng tên sở hữu đối với chứng khoán trong thời gian điển ra giao dịch. e© Người đi vay chứng khoán được phép tiếp tục thực hiện một hợp đồng cho vay chứng khoán khác hoặc sử dụng chứng khoán để thanh toán cho giao địch trên thị trường.
©_ Người cho vay ( theo hợp đồng), không giữ lại quyển đứng tên sở hữu đối với chứng khoán cho vay nhưng có quyển hưởng quyển lợi về tài chính (như lãi, cổ tức .) và có quyển nhận boàn lại các chứng khoán theo đúng thời hạn thỏa thuận. ©_ Người cho vay được nhận một khoản bảo đảm bằng tài sản (có thể bằng tiển, thư tín dụng hay bằng chứng khoán khác) để đối lấy việc tạm thời từ bổ việc đứng tên sở hữu chứng khoản cho vay. Giá trị thị trường của tài sản dam bảo phải lớn hơn giá trị của chứng khoán cho vay nhằm bảo vệ người cho vay trước sự đảo chiểu của giá chứng khoán trên thị trường hoặc đảm bảo khả năng nhận lại chứng khoán. ® Người đi vay phải trả phí vay.
Phí vay mượn chứng khoán được thoá thuận trước trong hợp đồng. Các loại thị trường cho vay chứng khoán: Có thể phân chia thị trường cho vay chứng khoán thành 2 thị trường riếng biệt: thị trường cho vay chứng khoán thông thường và thị trường cho vay chứng khoán đặc biệt. e Thị trường cho vay chứng khoán thông thường: mục đích của người đi vay là muốn tạm thời có được một số loại chứng khoán nhất định để sử dụng cho các giao dịch trên thị trường chẳng hạn như sử dụng chứng khoán đi vay để thực hiện giao dịch bán khống chứng khoán. Thị trường cho vay chứng khoán thường được thực hiện thông qua các hợp đồng cho vay chứng khoán (thường là cổ phiếu) có thể có bảo đảm hoặc không có bảo đảm.
«© Thị trường cho vay chứng khoán đặc biệt: người cho vay giao chứng khoán và nhận tiền như là tài sắn cầm cố cho khoản vay chứng khoán. Các loại chứng khoán cho vay phải là những chứng khoán nằm trong danh mục các chứng khoán do chính phủ nước sở tại phát hành và cũng có thể là chứng khoán do các doanh nghiệp trong nước phát hảnh. Giao dịch này thường được sử dụng để tài trợ cho danh mục đầu tư của nhà đầu tư với mức lãi suất thường thấp hơn lãi suất cho vay không thế chấp ngắn hạn liên ngân hàng. Thị trường cho vay chứng khoán đặc biệt ở nhiều nước thường được thực hiện thông qua các hợp đồng mua bán lại (REPO) và thường là các khoản nợ của chính phủ.
Có thể nói, thị trường cho vay chứng khoán cao cấp hơn thị trường cho vay tiền, các giao dịch được thiết kế tuỳ theo nhu cầu khách hàng, có sự tham gia của các định chế và tác nhân trung gian như ngân hàng lưu ký, những trung gian tin cậy có vai trò m kiếm hợp đồng, thoả thuận và định giá giao địch, người kinh doanh chứng khoán. và ngày càng trở thành thành phần quan trọng của thị trường tài chính trên thế giới. Sự hoạt động của thị trường này đã góp phần cung cấp tính thanh khoản và sự linh hoạt nhiều bơn cho thị trường chứng khoán, thị trường các công cụ phái sinh và thị trường tài chính nói chung. Lịch sử ra đời và phát triỂn của thị trường cho vay chứng khoán Thị trường cho vay chứng khoán đã tổn tại từ thế kỷ 19 và chỉ giới hạn trong phạm vi của một số nước, Trong những thập niên 50, 60, thị trường cho vay chứng khoán tổn tại ở một số nước và được quần lý chặt chẽ để đảm bảo rằng cổ phiếu chỉ được cho vay bởi những tổ chức nhất định, cho những mục đích nhất định và thường thông qua những tổ chức trung gian chuyên nghiệp.
Vào những năm 1960 ở Mỹ, sự gia tăng của giao dịch lô lớn và hoạt động bán khống chứng khoán dẫn đến rủi ro không thanh toán gia tăng. Một giao dịch bán khống thường xảy ra đối với người đầu cơ giá xuống. Họ vay chứng khoán để bán với giá hiện tại và hy vọng khi giá chứng khoán xuống họ mua vào để thanh toán cho khoản vay đó. Để đảm bảo an tòan cho họat động cho vay chứng khoán trên thị trường thì luật chứng khoán của các nước quy định người bán chứng khoán phải có chứng khoán lưu ký tại tổ chức lưu ký chứng khoán.
Điều này luôn buộc người bán khống chứng khoán phải vay chứng khoán để lưu ký vào tài khoản hiện hữu của mình rổi mới được thực hiện việc bán chứng khoán. Cũng trong thời gian này thị trường cho vay vốn phát triển mạnh đối với trái phiếu chính phủ Mỹ; điều này đã thúc đẩy sự phát triển các hoạt động mua bán lại trái phiếu chính phủ do các nhà kinh doanh muốn tim kiếm nguồn tài trợ hoặc muốn khắc phục tình trạng thiếu chứng khoán tam thời, Cùng với sự phát triển của thị trường, các ngân hàng trung ương cũng bắt đầu tham gia vào thị trường cho vay chứng khoán thông qua việc sử đụng các giao dịch mua lại nhằm tạo ra tính an toàn cho nghiệp vụ thị trường mở. Các thành viên tham gia thị trường giao dịch mua lại các loại trái phiếu chính phủ chi giới hạn ở những tổ chức trong nước như các nhà kinh doanh chính yếu, các ngân hàng nội địa và một số thành viên trên thị trường tiền tệ. Đến những năm 1980, ở Mỹ cho vay chứng khoán được nhìn nhận như một nghiệp vụ bổ sung trong các nghiệp vụ cung cấp bởi ngân hàng lưu ký.
Nghiệp vụ này tạo ra một nguồn thu nhập tăng thêm cho các tổ chức kinh doanh chứng khoản. Trong giai đoạn này, các nội dung của hợp đồng cũng được tiêu chuẩn hoá bởi Hiệp hội thị trường trái phiếu. Những năm 1990, qui mô của thị trường trái phiếu chính phủ thứ cấp gia tăng nhanh chóng ở nhiều quốc gia do các nhà kinh doanh muốn tìm kiếm nguồn tài trợ để mua chứng khoán, thanh toán bán khống và sử dụng repo để kiếm lợi và hạn chế rủi ro lãi suất. Các giao dịch repo được sử dụng ngày càng nhiều bởi các ngân hàng Trung ương và kéo theo là sự phát triển của một hệ thống thanh toán hiệu quả.
Nếu như thị trường giao dịch mua bán lại chỉ giới hạn trong phạm vỉ quốc gia thì thị trường cho vay cổ phiếu đã mang tính quốc tế do sự phát triển của thị trường các công cụ phái sinh, sự xuất hiện của các cơ hội kiếm lãi nhờ chênh lệch giá - lợi nhuận và việc sử dụng rộng rãi các giao dịch bán khống. Những giao địch này ngày càng gia tăng và vượt ra khỏi phạm vi quốc gia khi thị trường chứng khoán ngày một trở nên toàn cầu hoá. Các xu thế giao dịch nói trên đã gia tăng mạnh mẽ trong những năm 1990 ngày càng có nhiều công ty, cá nhân có như cầu vay chứng khoán để tận dụng những cơ hội kiếm lời trên thị trường. Sự phát triển của công nghệ thông tin và thị trường phái sinh cho phép nhà đẫu tư xây đựng cơ cấu tài chính có thể giúp họ đối phó với những nguy cơ ở mức chấp nhận được và giảm thiểu được những rủi ro khác của thị trường.
Chính thị trường cho vay chứng khoán tạo ra tính thanh khoản cần thiết và cho phép nhà đầu tư thực hiện được cơ cấu tài chính hoạch định. Qui mô của thị trường cho vay chứng khoán Các giao dịch cho vay chứng khoán phan lớn được thực hiện riêng lẻ, không qua các giao dịch tập trung và không được thể hiện qua hệ thống giao dịch điện tử trung tâm nên thường không có số liệu thống kê. Với sự tham gia của rất nhiều thành viên, trong đó có những thành viên không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật và không được giám sát chặt chế (như các quỹ hedge funds), những số liệu tổng hợp thể hiện quy mô của thị trường cho vay chứng khoán là rất khó có được. Tuy nhiên, dựa trên những dự đoán khả đĩ về qui mô hiện tại và sự phát triển gần đây của thị trường cho vay chứng khoán nội địa; số liệu về giao dịch cho vay chứng khoán có thể thấy được từ số liệu của ngân hàng trung ương hoặc số liệu của các nhà quản lý thị trường hay ngần khố.
Tại một vài nước, các giao dịch vay và mua lại chứng khoán được thực hiện thông qua sở giao địch nên có thể dựa vào các số liệu thống kê của sở giao dịch hoặc số liệu của hệ thống bù trừ chứng khoán để xác định khối lượng cho vay chứng khoán. Qui mô của thị trường cho vay chứng khoán chính phủ được xác định đựa trên số liệu chính thức cung cấp bởi các ngân hàng trung ương hoặc các nhà quản lý thị trường chứng khoán. Bảng 1: Qui mô thị trường repo và cho vay chứng khoán chính phủ tại một số nước Đơn vị : Triệu USD Ty lệ giữa tổng Tổng giá. giá trị GD Tổng giá Giá trị|Giá trị|trị GD vay và | Thời trị TPCP GD vay|GD mua |vay va mua điểm phát 2 TPCP lại TPCP |mua lại lạitổng báo cáo hành TPCP giá trị TPCP phat hanh Ue na na 49,144 na na 12/1998 Bi 1,338 72,749 74,086 252,769 =| 29,3 6/1998 Canada na na 249,686 [na na 12/1998 Phap 2,797 256,866 | 259,664 | 704,486 | 36.a na na 135574 | na 9/1998 Anh 45,045 134,593 179,638 | 482,662 | 37.3 2/1999 Nguồn : Báo cáo đánh giá hoạt động giao dịch cho vay chứng khoản của Ngân hàng thanh toán quốc tế; n.a: số liệu không thu thập được Những số liệu trên cho thấy tẩm quan trọng cúa việc cho vay chứng khoán chính phú như một nguồn tài trợ và tạo thanh khoản cho thị trường tài chính.
Ở những thị trường đã phát triển như ở Mỹ, số lượng trái phiếu chính 10 phủ trong các giao dịch repo và cho vay đã tăng 27% từ mức 1,46 tỷ USD tháng 2/1997 lên 1,800 tỷ USD vào tháng 2/1999.