phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, các phụ lục nghiên cứu, nội dung luận án bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận và thực tiễn về xây dựng học liệu E-learning dành cho giáo viên tiểu học. Chƣơng 2: Thiết kế hệ thống học liệu E-learning dành cho giáo viên tiểu học dựa vào công nghệ truyền thông mạng Internet. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. Luận văn thạc sĩ xây dựng 10 CHƢƠNG 1.
LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG HỌC LIỆU E-LEARNING DÀNH CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới nghiên cứu về E-learning và ứng dụng E-learning vào trong GD&ĐT đã đƣợc nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ trƣớc. Khởi đầu E-learning đƣợc nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ ở khu vực Bắc Mỹ, châu Âu, sau đó các nƣớc ở khu vực châu Á cũng quan tâm nghiên cứu phát triển, đặc biệt là Hàn Quốc.
Những năm cuối của thế kỷ 20, GD&ĐT đã đƣợc thừa hƣởng những thành tựu của CNTT&TT, nhiều nghiên cứu về các phần mềm dạy học, đào tạo dựa trên công nghệ web, khoá đào tạo trực tuyến,. đã đƣợc thực hiện. Ở Mỹ, chính phủ đã có những chính sách trợ giúp cho nghiên cứu ứng dụng E-learning từ cuối những năm 1990. Theo thống kê của Hội phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD) đến năm 2000 có gần 47% các trƣờng đại học và cao đẳng đã đƣa ra các mô hình đào tạo từ xa khác nhau tạo nên 54.000 khóa học trực tuyến.
Đến năm 2004 có khoảng 90% các trƣờng đại học, cao đẳng Mỹ nghiên cứu xây dựng các mô hình E-learning, số ngƣời tham gia khóa học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian từ 1999-2004. Một số hệ thống E-learning điển hình của các trƣờng đại học trên thế giới đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu về giáo dục quan tâm có thể kể đến nhƣ: - Hệ thống E-learning của trƣờng Đại học Western Governors của Mỹ. Đây là trƣờng đại học trực tuyến đƣợc thành lập từ năm 1997 bởi 17 bang miền Tây nƣớc Mỹ. Các khóa học đƣợc nghiên cứu thiết kế phù hợp với từng nhóm HV dựa trên kết quả kiểm tra đầu vào, nội dung cho mỗi nhóm đối tƣợng là lƣợng kiến thức cần bổ sung cho mức độ thiếu hụt kiến thức của đối Luận văn thạc sĩ xây dựng 11 tƣợng đó.
Hệ thống hoạt động dƣới sự hỗ trợ của nhiều công ty máy tính và tin học nhƣ IBM, AOL, Mirosoft,… và đã triển khai rất có hiệu quả quá trình đào tạo của nhà trƣờng. Hệ thống này vẫn còn một số tồn tại nhƣ: đã có phòng họp ảo hỗ trợ lớp học trực tuyến theo thời gian thực tuy nhiên mới chỉ có các trang trình chiếu (slide) bài giảng và trao đổi bằng văn bản (text), nội dung bài giảng chủ yếu là dạng chữ và hình tĩnh, không thiết lập đƣợc một môi trƣờng mang tính tƣơng tác cho ngƣời học; công cụ xây dựng khóa học đƣợc tích hợp trong hệ thống E-learning chỉ hỗ trợ GV xây dựng bài giảng tổng hợp, không có chƣơng trình mở để GV tạo bài giảng phân nhánh phù hợp với nhiều đối tƣợng học tập khác nhau [81]. - Hệ thống E-learning của Đại học Glasgow của nƣớc Anh. Hệ thống này đƣợc xây dựng trên nền tảng phần mềm quản lý bài giảng moodle (Modular Object-Oriented Dynamic Learning Enviroment), một trong những phần mềm mã nguồn mở về E-learning và đang đƣợc sử dụng rộng rãi nhất hiện nay.
Moodle đã tạo ra môi trƣờng dạy học bằng E-learning để GV cung cấp bài giảng và các tài liệu học tập đến HV một cách thuận tiện. Tuy nhiên, qua khảo sát hệ thống này cho thấy các khóa học chƣa thực sự linh hoạt, để có đƣợc các bài giảng của khóa học thì HV phải chọn chƣơng trình học có sẵn hoặc tự chọn bài giảng để tham khảo khóa học. HV sẽ bị lệ thuộc vào chƣơng trình có từ trƣớc, nội dung giống nhau cho tất cả các đối tƣợng HV, điều này dẫn đến các khóa học không hoàn toàn phù hợp với năng lực thực tế của HV, không đảm bảo khả năng học tập phân hóa. Cùng thời gian trên cũng có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề thúc đẩy ứng dụng Internet, CNTT&TT trong trƣờng học (Liu, 2005; Turner & Crews, 2005; Winglinsky, 2005).
Các nghiên cứu này đã khẳng định học tập có sự hỗ trợ của CNTT &TT có những lợi ích nhất định nhƣ: ngƣời học có thể tƣơng tác với môi trƣờng học tập ảo, học tập theo phong cách học tập của Luận văn thạc sĩ xây dựng 12 mình và có thể tự tổ chức quá trình học tập một cách chủ động. Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu so sánh kết quả học tập truyền thống và học tập trong môi trƣờng CNTT. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt đáng kể về kết quả học tập giữa học truyền thống và học tập trực tuyến; học tập trực tuyến cung cấp và đáp ứng nhu cầu ngƣời học tốt hơn, đặc biệt ở giáo dục đại học. Các nghiên cứu về E-learning trong đào tạo, BD GV cũng đã được một số nước ở châu Âu nghiên cứu và phát triển như: - Hệ thống đào tạo GV về CNTT của Cộng hoà Síp: Hệ thống E- learning này đƣợc Viện Sƣ phạm nghiên cứu thiết kế xây dựng, bắt đầu từ năm 2005, kết thúc 2009.
Mục tiêu của nghiên cứu xây dựng mô hình này là đào tạo cho tất cả GV về sử dụng CNTT trong công việc và sử dụng CNTT trong môi trƣờng lớp học. Vì vậy, nội dung các khoá học đƣợc nghiên cứu thiết kế tập trung vào hai vấn đề cơ bản, đó là: các KN cơ bản về CNTT và ứng dụng CNTT trong các chương trình giáo dục. - Hệ thống ePortfolio dành cho GV của Estonia đƣợc thực hiện trong giai đoạn 2005-2007. Hệ thống đƣợc nghiên cứu xây dựng dựa trên những yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp của GV mới đƣợc xây dựng trƣớc đó.
Theo chuẩn GV, GV phải tích hợp CNTT vào trong quá trình giảng dạy thông qua những nội dung học tập đã đƣợc xác định từ trƣớc. ePortfolio mô tả cách thức thực hiện chuẩn chuyên môn của GV thông qua các tài liệu, các bài trình diễn để GV tự học tập, tự phát triển nghề nghiệp. Nội dung đào tạo đƣợc chia thành 3 cấp độ (cho 3 đối tƣợng khác nhau) là: giáo sinh các trường sư phạm, GV mới vào nghề và GV đang dạy học tại các trường học có nhu cầu học tập phát triển chuyên môn thƣờng xuyên (BD GV). - Mô hình BDGV KenGure của Phần Lan (giai đoạn 2005-2007): Từ sau những năm 2000, hầu hết GV ở Phần Lan đều đã có các KN cơ bản về Luận văn thạc sĩ xây dựng 13 CNTT (khoảng 50-60% GV đã đƣợc tập huấn KN về CNTT).
Mặt khác, trong thời gian này cũng có những nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá nhu cầu của GV về nâng cao KN CNTT và phƣơng pháp sử dụng CNTT trong dạy học. Trên cơ sở đó, Phần Lan đã xây dựng dự án BD GV với mục đích cung cấp nguồn học liệu trực tuyến để BD GV về phƣơng pháp sử dụng CNTT trong giáo dục. Nội dung cơ bản của các khoá học gồm các kiến thức: KN cơ bản về CNTT, bảo mật Internet, quá trình học tập dựa trên kế hoạch giảng dạy có tích hợp CNTT với 20 tình huống mẫu. Các học liệu trực tuyến đƣợc thiết kế và cung cấp đầy đủ để cho GV có thể tự học theo cách học của họ thông qua các nhiệm vụ học tập, còn ngƣời học có thể tự tìm kiếm tài liệu học tập phù hợp với khả năng và trình độ của mình dựa vào các chỉ dẫn đã đƣợc đƣa ra.
- Mạng học tập (Learning Networks) của Na Uy: Xuất phát từ thực tế đội ngũ lãnh đạo, GV các trƣờng học chƣa có đủ năng lực sử dụng CNTT cho mục đích giáo dục đảm bảo tính sƣ phạm, Bộ Giáo dục Na Uy đã xây dựng Mạng học tập trong giai đoạn 2004-2009. Mục tiêu của Mạng học tập là xây dựng một mạng để trao đổi thông tin, kiến thức, phát triển năng lực nghề nghiệp dựa trên nền tảng CNTT sẵn có ở các nhà trƣờng và các cơ sở đào tạo GV. GV có thể phát triển kiến thức chuyên môn, hỗ trợ công việc cho nhau thông qua chia sẻ kinh nghiệm trên các diễn đàn để phát triển KN. Chƣơng trình đào tạo từ xa này đã cung cấp thêm cơ sở vững chắc cho khả năng sử dụng E-learning trong đào tạo từ xa.
Trong tƣơng lai, GV, cán bộ, nhân viên từ các cơ sở GD khác có thể thấy đƣợc lợi ích của mô hình này, từ đó học tập xây dựng những mô hình đào tạo tƣơng tự. Nội dung học tập đƣợc xây dựng, cập nhật dựa trên các điều kiện thực tiễn, hay nội dung đƣợc quyết định bởi thực tiễn hoạt động của GV. Chƣơng trình đào tạo từ xa ngày càng trở nên hấp dẫn hơn khi kết thúc khoá học GV đƣợc cấp chứng chỉ công nhận hoàn thành khoá học. Luận văn thạc sĩ xây dựng 14 - Các nghiên cứu xây dựng các hệ thống E-learning phục vụ cho công tác đào tạo và BD GV ở Bồ Đào Nha: + Các nghiên cứu thuộc chương trình ttVLC (trainers training to Virtual Learing Communities) [47]: Mục đích của nghiên cứu này là để cung cấp một khung hỗ trợ cho các nhà GD và hƣớng dẫn viên phát triển các năng lực để sử dụng và tích hợp CNTT&TT trên công nghệ web, theo cách tiếp cận học tập hợp tác.
Các khóa học đƣợc thiết kế không chỉ giải quyết cho các nhà GV và giảng viên phát triển các KN mới trong CNTT để học tập mà họ cũng cần phải xây dựng kiến thức của riêng mình. Để đạt đƣợc các mục tiêu giảng viên đã tham gia vào quá trình học từ xa thông qua trang web, qua đó họ có thể phát triển các thái độ và năng lực mới về CNTT sử dụng và tích hợp trong học tập dựa trên web. Thiết kế khóa học của ttVLC đã đƣợc định hƣớng thông qua những mục tiêu sau đây: 1) Phát triển thái độ đối với việc sử dụng và tích hợp công nghệ; 2) Phát triển năng lực để lập kế hoạch và giám sát giáo dục từ xa dựa trên web; 3) Phát triển năng lực tích hợp và sử dụng CNTT&TT giáo dục từ xa thông qua web; 4) Phát triển các chiến lƣợc, phƣơng pháp để thúc đẩy quá trình học tập trong môi trƣờng giáo dục dựa trên web. Khóa học tổ chức phát triển từ các bài trình bày của các đơn vị làm việc theo hình thức nghiên cứu điển hình.