Xây Dựng Một Số Chủ Đề Tích Hợp Chương Trình Vật Lý Lớp 10 Và 11

Tài liệu nghiên cứu Luận văn xây dựng một số chủ đề tích hợp chương trình vật lý lớp 10 và 11 thpt, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật.

Chuyên ngành

Phương Pháp Dạy Học Vật Lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

171
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP

1.1. Dạy học tích hợp

1.2. Năng lực – Phẩm chất

1.3. Chủ đề tích hợp

1.4. Tình hình vận dụng dạy học tích hợp

1.4.1. Trên thế giới

1.4.2. Ở Việt Nam

1.5. Ưu điểm của dạy học tích hợp

1.5.1. Đối với học sinh

1.5.2. Đối với giáo viên

1.6. Khó khăn của dạy học tích hợp

1.7. Nội dung chương trình

1.7.1. Đối với giáo viên

1.8. Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam

1.9. Nguyên tắc của dạy học tích hợp

1.10. Các mức độ của dạy học tích hợp

1.10.1. Kết hợp, lồng ghép

2. CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT SUY NGHĨ CỦA SINH VIÊN VÀ GIÁO VIÊN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP

2.1. Tình hình thực hiện của giáo viên

2.1.1. Ở bậc trung học phổ thông

2.1.2. Ở bậc Đại học

2.2. Thực hiện khảo sát sinh viên và giáo viên

2.2.1. Mục tiêu khảo sát

2.2.2. Đối tượng, cách thức và thời gian khảo sát

2.2.3. Nội dung khảo sát

2.2.4. Kết quả khảo sát và nhận xét

3. CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP – MỘT SỐ CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP

3.1. Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp

3.2. Rà soát chương trình

3.3. Lựa chọn chủ đề

3.4. Xác định vấn đề – Tạo tình huống thực tiễn

3.5. Xác định kiến thức của chủ đề

3.6. Xây dựng mục tiêu của chủ đề

3.7. Xây dựng tiến trình giảng dạy cho chủ đề

3.8. Tổ chức dạy học và đánh giá lại chủ đề

3.9. Một số chủ đề tích hợp

3.9.1. Chủ đề 1: Bóng đá – Hành trình bí ẩn

3.9.2. Chủ đề 2: Triều cường – Người bạn khó tính

3.9.3. Chủ đề 3: Sản phẩm ống nhòm – Thương trường khốc liệt

4. CHƯƠNG 4: TIẾN TRÌNH GIẢNG DẠY CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP

4.1. CHỦ ĐỀ 1: BÓNG ĐÁ – HÀNH TRÌNH BÍ ẨN

4.2. CHỦ ĐỀ 2: TRIỀU CƯỜNG – NGƯỜI BẠN KHÓ TÍNH

4.3. CHỦ ĐỀ 3: SẢN PHẨM ỐNG NHÒM – THƯƠNG TRƯỜNG KHỐC LIỆT

KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG MỞ RỘNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 1

PHỤ LỤC 2 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 2

PHỤ LỤC 3 – PHIẾU BỔ TRỢ CHỦ ĐỀ 3

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Dạy Học Tích Hợp Vật Lý 10 11 Khái Niệm

Dạy học tích hợp (DHTH) là phương pháp giáo dục hiện đại, kết nối kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết vấn đề thực tiễn. Theo từ điển tiếng Việt, tích hợp là "lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ". Trong giáo dục, DHTH giúp học sinh (HS) phát triển khả năng vận dụng kiến thức liên môn, liên ngành để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về thế giới xung quanh. UNESCO định nghĩa DHTH là cách trình bày các khái niệm khoa học, nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh quá mức sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau. DHTH hướng dẫn HS cách sử dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết các tình huống cụ thể, phát triển năng lực người học. Xavier Roegiers nhấn mạnh việc chuyển từ dạy kiến thức sang phát triển năng lực hành động ở HS, xem năng lực là khái niệm cơ sở của sư phạm tích hợp.

1.1. Phân Loại Tích Hợp Tích Hợp Dọc và Tích Hợp Ngang

Từ điển giáo dục học phân loại tích hợp thành hai loại chính: tích hợp dọctích hợp ngang. Tích hợp dọc liên kết các môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc các lĩnh vực gần nhau. Tích hợp ngang liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề. Việc lựa chọn loại hình tích hợp phù hợp phụ thuộc vào mục tiêu bài học và đặc điểm của môn học. Cả hai hình thức đều hướng đến việc tạo ra một hệ thống kiến thức đồng bộ và có ý nghĩa đối với người học.

1.2. Mục Tiêu Của Dạy Học Tích Hợp Phát Triển Năng Lực Học Sinh

Mục tiêu chính của DHTH là hình thành và phát triển năng lực của người học. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ GD-ĐT nhấn mạnh DHTH giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề trong học tập và cuộc sống. Quan điểm xây dựng chương trình là giáo dục toàn diện, hài hòa đức, trí, thể, mỹ, xác định yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của HS ở từng cấp học.

II. Năng Lực và Phẩm Chất Yếu Tố Cốt Lõi Của Dạy Học Vật Lý

Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác. Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật, niềm tin, tình cảm của con người. Phẩm chất cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người. Schneckenberg và Wildt cho rằng việc hình thành năng lực phải trải qua một quá trình nhiều giai đoạn, giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau. Chương trình giáo dục phổ thông mới tập trung vào hình thành và phát triển 3 phẩm chất và 8 năng lực chủ yếu cho HS.

2.1. Các Bước Hình Thành Năng Lực Theo Mô Hình Bậc Thang

Việc hình thành năng lực trải qua nhiều giai đoạn, từ thu thập thông tin, xử lý thông tin để hình thành kiến thức, áp dụng kiến thức vào bối cảnh cụ thể để hình thành khả năng. Khả năng kết hợp với thái độ hình thành hành động có ý nghĩa. Hành động có ý nghĩa phù hợp với các tiêu chuẩn nhất định sẽ hình thành năng lực. Để hình thành sự chuyên nghiệp và năng lực nghề nghiệp cần kết hợp thêm tính trách nhiệm và học hỏi kinh nghiệm.

2.2. Phẩm Chất và Năng Lực Cần Thiết Trong Giáo Dục Hiện Đại

Chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2015 được cấu trúc lại theo định hướng nhằm hình thành và phát triển cho HS 3 phẩm chất (Sống yêu thương, Sống tự chủ, Sống trách nhiệm) và 8 năng lực chủ yếu (Năng lực tự học, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, Năng lực thẩm mỹ, Năng lực thể chất, Năng lực giao tiếp, Năng lực hợp tác, Năng lực tính toán, Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)).

2.3. Tầm Quan Trọng Của Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề và Sáng Tạo

Do mục tiêu giáo dục không còn đặt nặng vào việc truyền thụ kiến thức mà là tập trung, chú trọng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cần thiết cho HS nên việc thay đổi quan điểm giáo dục là điều tất yếu. Và quan điểm DHTH là phù hợp việc đáp ứng được mục tiêu hình thành và phát triển năng lực ở HS, nhất là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo – năng lực cần thiết nhất trong thời buổi hội nhập, năng lực mà trong quan điểm dạy học truyền thống chưa được tập trung chú trọng.

III. Xây Dựng Chủ Đề Tích Hợp Vật Lý 10 11 Gắn Liền Thực Tiễn

Chủ đề tích hợp là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều mảng khác nhau của một môn học; hai hay nhiều môn học khác nhau, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội. Các chủ đề tích hợp cần phải gắn với thực tiễn nên sinh động, và cụ thể đối với HS, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS. Với các chủ đề tích hợp, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, tránh việc ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm chất của HS được hình thành và phát triển. Ngoài ra, dạy học các chủ đề tích hợp giúp cho HS tăng cường sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn.

3.1. Ưu Điểm Của Chủ Đề Tích Hợp Trong Dạy Học Vật Lý

Chủ đề tích hợp tạo động lực và hứng thú học tập cho HS. HS được vận dụng kiến thức tổng hợp để giải quyết các tình huống thực tiễn, tránh học thuộc lòng máy móc. Năng lực và phẩm chất của HS được hình thành và phát triển. HS hiểu biết tổng quát và có khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.

3.2. Ví Dụ Về Chủ Đề Tích Hợp Vật Lý 10 11 Gắn Với Thực Tiễn

Các chủ đề như "Bóng đá – Hành trình bí ẩn", "Triều cường – Người bạn khó tính", "Sản phẩm ống nhòm – Thương trường khốc liệt" là những ví dụ điển hình. Các chủ đề này kết hợp kiến thức Vật lý với các lĩnh vực khác như thể thao, địa lý, kinh tế, giúp HS thấy được sự liên hệ giữa kiến thức và cuộc sống.

IV. Quy Trình Xây Dựng Chủ Đề Tích Hợp Vật Lý 10 11 Hiệu Quả

Để xây dựng chủ đề tích hợp hiệu quả, cần tuân thủ một quy trình bài bản. Đầu tiên, cần rà soát chương trình Vật lý lớp 10 và 11 để xác định các kiến thức có thể tích hợp. Tiếp theo, lựa chọn chủ đề phù hợp với trình độ HS và gắn liền với thực tiễn. Xác định vấn đề và tạo tình huống thực tiễn để kích thích sự tò mò của HS. Xác định kiến thức cần thiết của chủ đề và xây dựng mục tiêu rõ ràng. Cuối cùng, xây dựng tiến trình giảng dạy chi tiết và tổ chức đánh giá lại chủ đề sau khi dạy.

4.1. Các Bước Quan Trọng Trong Quy Trình Xây Dựng Chủ Đề

Quy trình bao gồm: Rà soát chương trình, lựa chọn chủ đề, xác định vấn đề, xác định kiến thức, xây dựng mục tiêu, xây dựng tiến trình giảng dạy, tổ chức dạy học và đánh giá lại chủ đề. Mỗi bước đều quan trọng và cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo chất lượng của chủ đề tích hợp.

4.2. Tạo Tình Huống Thực Tiễn Để Kích Thích Sự Tò Mò Của Học Sinh

Việc tạo tình huống thực tiễn giúp HS thấy được sự liên hệ giữa kiến thức Vật lý và cuộc sống. Ví dụ, khi dạy về chuyển động, có thể sử dụng tình huống về một cầu thủ đá bóng để thu hút sự chú ý của HS.

4.3. Đánh Giá Hiệu Quả Của Chủ Đề Tích Hợp Sau Khi Giảng Dạy

Việc đánh giá giúp GV biết được mức độ hiểu bài của HS và điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp. Có thể sử dụng nhiều hình thức đánh giá khác nhau như bài tập, thảo luận nhóm, hoặc dự án.

V. Khảo Sát Thực Tế Đánh Giá Dạy Học Tích Hợp Vật Lý 10 11

Việc khảo sát suy nghĩ của sinh viên sư phạm và giáo viên về DHTH là cần thiết để đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả. Khảo sát giúp thu thập thông tin về tình hình thực hiện DHTH ở bậc trung học phổ thông và đại học. Mục tiêu khảo sát là tìm hiểu quan điểm của sinh viên và giáo viên về DHTH mức độ liên môn của Bộ GD – ĐT. Đối tượng khảo sát là sinh viên năm cuối ngành sư phạm và giáo viên THPT. Nội dung khảo sát tập trung vào các vấn đề liên quan đến DHTH, như ưu điểm, khó khăn, và các biện pháp khắc phục.

5.1. Mục Tiêu và Đối Tượng Khảo Sát Về Dạy Học Tích Hợp

Mục tiêu khảo sát là tìm hiểu quan điểm của sinh viên và giáo viên về DHTH mức độ liên môn của Bộ GD – ĐT. Đối tượng khảo sát là sinh viên năm cuối ngành sư phạm và giáo viên THPT. Việc lựa chọn đối tượng khảo sát phù hợp giúp thu thập thông tin chính xác và khách quan.

5.2. Nội Dung Khảo Sát Ưu Điểm Khó Khăn và Giải Pháp

Nội dung khảo sát tập trung vào các vấn đề liên quan đến DHTH, như ưu điểm, khó khăn, và các biện pháp khắc phục. Việc khảo sát toàn diện giúp đánh giá đúng thực trạng và tìm ra giải pháp phù hợp.

VI. Ứng Dụng Thực Tiễn Tiến Trình Giảng Dạy Chủ Đề Tích Hợp

Việc xây dựng tiến trình giảng dạy chi tiết cho các chủ đề tích hợp là rất quan trọng. Tiến trình giảng dạy cần đảm bảo tính khoa học, sư phạm và phù hợp với trình độ HS. Cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng chủ đề. Ngoài ra, cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo. Việc đánh giá kết quả học tập của HS cần được thực hiện thường xuyên và khách quan.

6.1. Các Yếu Tố Cần Thiết Trong Tiến Trình Giảng Dạy

Tiến trình giảng dạy cần đảm bảo tính khoa học, sư phạm và phù hợp với trình độ HS. Cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng chủ đề.

6.2. Chuẩn Bị Phương Tiện Dạy Học và Tài Liệu Tham Khảo

Cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo để hỗ trợ quá trình giảng dạy và học tập. Các phương tiện dạy học có thể là hình ảnh, video, hoặc phần mềm mô phỏng.

6.3. Đánh Giá Kết Quả Học Tập Của Học Sinh Khách Quan

Việc đánh giá kết quả học tập của HS cần được thực hiện thường xuyên và khách quan. Có thể sử dụng nhiều hình thức đánh giá khác nhau như bài tập, thảo luận nhóm, hoặc dự án.

05/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Tích hợp Theo từ điển tiếng Việt: “Tích hợp có nghĩa là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ” [1, tr. Theo từ điển giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [2, tr. Theo từ điển giáo dục học có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc (vertical integration) và tích hợp ngang (horizontal integration).

Tích hợp dọc là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau” còn tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề [2, tr. Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” có nguồn gốc từ tiếng La tinh, có nghĩa là xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Nên tích hợp có thể được hiểu là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy. Vì thế, trong dạy học, tích hợp có thể định nghĩa là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, nội dung học tập khác nhau vào cùng một kế hoạch giảng dạy mà vẫn bảo đảm sự đồng bộ, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu giáo dục tốt hơn.

Dạy học tích hợp Tháng 09/1968, “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học” đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO. Theo đó, DHTH được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”[3]. Định nghĩa của UNESCO nhấn mạnh quan điểm cần giảm 2 thiểu việc tách riêng các kiến thức, các lĩnh vực khoa học khác nhau. Quá trình DHTH bao gồm những hoạt động tích hợp, xuất phát từ những tình huống thực tế, tạo cơ hội để HS biết cách phối hợp các kiến thức, kỹ năng và thao tác một cách có hệ thống, từ đó hình thành những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

Nói một cách khác, DHTH là hướng dẫn, định hướng cho HS cách sử dụng kiến thức, kỹ năng của mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích phát triển năng lực người học. Theo Xavier Roegiers, “Lý thuyết sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Lý thuyết sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [4]. Xavier Roegiers còn cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực là khái niệm cơ sở của sư phạm tích hợp.

Các định nghĩa trên cũng đã nêu rõ mục tiêu chính của việc DHTH là hình thành và phát triển năng lực của người học. Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể được Bộ GD – ĐT ban hành tháng 08/2015 [21], đã đề cập đến quan niệm DHTH như sau “dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng,… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề”. Và quan điểm xây dựng của chương trình là “trên cơ sở giáo dục toàn diện và hài hòa đức, trí, thể, mỹ; mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông xác định những yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của HS ở từng cấp học; mục tiêu chương trình môn học xác định những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hướng đến hình thành những phẩm chất, năng lực đặc thù môn học và các phẩm chất, năng lực khác ở từng lớp, từng cấp học, coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục, là căn cứ để chỉ đạo, giám sát và đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông”. Năng lực – Phẩm chất 3 Năng lực là “khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…” [21].

Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Năng lực đặc thù môn học là “năng lực mà môn học (đó) có ưu thế hình thành và phát triển”. Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Phẩm chất là “những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử trong đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật, niềm tin, tình cảm,.

của con người”. Phẩm chất cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người. Schneckenberg và Wildt cho rằng việc hình thành năng lực phải trải qua một quá trình có nhiều giai đoạn, giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau [5]. Quá trình đó có thể được mô hình hóa bằng sơ đồ “bậc thang” như sau: (Hình 1.

- Bước 1: Thu thập, tiếp nhận thông tin. - Bước 2: Xử lý thông tin để hình thành kiến thức. - Bước 3: Áp dụng kiến thức vào những bối cảnh cụ thể để hình thành khả năng. - Bước 4: Khả năng kết hợp với thái độ (động cơ, niềm tin, …) để hình thành hành động có ý nghĩa.

- Bước 5: Hành động có ý nghĩa phù hợp với các tiêu chuẩn nhất định sẽ hình thành năng lực. Để hình thành sự chuyên nghiệp và năng lực nghề nghiệp thì còn cần kết hợp thêm một số yếu tố khác: - Bước 6: Năng lực kết hợp với tính trách nhiệm sẽ dẫn đến sự chuyên nghiệp, thành thạo. - Bước 7: Sự chuyên nghiệp kết hợp với học hỏi kinh nghiệm sẽ hình thành năng lực nghề nghiệp. 4 Năng lực nghề Chuyên nghiệp Năng lực Kinh Hành động Trách nghiệm Khả năng Phù nhiệm Kiến thức Thái hợp Thông tin Áp độ Xử lý dụng Hình 1.

Các bước hình thành năng lực [6]. Chương trình giáo dục phổ thông mới sau năm 2015 sẽ được cấu trúc lại theo định hướng nhằm hình thành và phát triển cho HS 3 phẩm chất và 8 năng lực chủ yếu sau: (Bảng 1. Các phẩm chất và năng lực cơ bản. PHẨM CHẤT NĂNG LỰC Sống yêu thương.

Năng lực tự học. Sống tự chủ. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Sống trách nhiệm.

Năng lực thẩm mỹ. Năng lực thể chất. Năng lực giao tiếp. Năng lực hợp tác.

Năng lực tính toán. Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Do mục tiêu giáo dục không còn đặt nặng vào việc truyền thụ kiến thức mà là tập trung, chú trọng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cần thiết cho HS nên việc thay đổi quan điểm giáo dục là điều tất yếu. Và quan điểm DHTH là phù hợp việc đáp ứng được mục tiêu hình thành và phát triển năng lực ở HS, nhất là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo – năng lực cần thiết nhất trong thời buổi hội nhập, năng lực mà trong quan điểm dạy học truyền thống chưa được tập trung chú trọng.

Chủ đề tích hợp Chủ đề tích hợp là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều mảng khác nhau của một môn học; hai hay nhiều môn học khác nhau, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội. 5 Các chủ đề tích hợp cần phải gắn với thực tiễn nên sinh động, và cụ thể đối với HS, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS. Với các chủ đề tích hợp, HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, tránh việc ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm chất của HS được hình thành và phát triển. Ngoài ra, dạy học các chủ đề tích hợp giúp cho HS tăng cường sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn [7].

Tình hình vận dụng dạy học tích hợp 1. Trên thế giới Không chỉ hiện tại, từ những năm giữa thế kỉ 20, chương trình đào tạo của nhiều nước đã được xây dựng theo quan điểm tích hợp, đặc biệt là ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở. Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến 1974 trên thế giới đã có 208 chương trình dạy các môn khoa học theo quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau. Và các nước có nội dung chương trình thể hiện rõ quan điểm này là Pháp, Nga, Hoa Kì, … Từ năm 2006, các chủ đề hội tụ được Bộ giáo dục Quốc gia Pháp chính thức đưa vào chương trình học cho HS cấp THCS trên toàn quốc.

Các chủ đề hội tụ ở Pháp là những đề tài rất thiết thực, gắn liền với thực tiễn đời sống, và được Bộ giáo dục và đào tạo Pháp chọn lựa rất kĩ lưỡng [22]. Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á đã thực hiện quan điểm tích hợp để dạy các kiến thức về tự nhiên và xã hội ở cấp tiểu học và THCS với những mức độ nhất định. Điển hình có thể đề cập đến, trong chương trình của Singapore, Thái Lan, môn “Khoa học” gồm những chủ đề nhất định xuyên suốt từ tiểu học tới THCS (lớp 9 hoặc lớp 10) [8]. Ở Việt Nam Ở nước ta đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm vận dụng tư tưởng DHTH vào quá trình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Xây Dựng Chủ Đề Tích Hợp Trong Giảng Dạy Vật Lý Lớp 10 Và 11" tập trung vào việc phát triển các phương pháp giảng dạy tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh lớp 10 và 11 trong môn Vật lý. Tài liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp các chủ đề khác nhau để tạo ra một môi trường học tập phong phú và hấp dẫn hơn. Bằng cách áp dụng các phương pháp giảng dạy tích hợp, giáo viên có thể giúp học sinh phát triển tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và kỹ năng làm việc nhóm.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực học sinh, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận án tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức cho học sinh trong dạy học đọc hiểu vbts ở trung học cơ sở", nơi đề cập đến việc phát triển kỹ năng tự nhận thức cho học sinh. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển năng lực suy luận thống kê cho học sinh lớp 10" sẽ cung cấp thêm thông tin về cách nâng cao năng lực suy luận cho học sinh. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Luận văn thạc sĩ how to improve reading comprehension skills for the 11 gradestudents at u minh thuong high school by using some while reading activities", tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hoạt động hỗ trợ kỹ năng đọc hiểu cho học sinh lớp 11. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp giảng dạy hiệu quả trong giáo dục hiện đại.