phần mở đầu, khóa luận gồm các chương chính như sau. Chương 2 nêu tổng quan các nghiên cứu có liên quan và thảo luận về các thuật toán trong việc xây dựng cây quyết định nhạy cảm với chi phí - ràng buộc về tài nguyên. Chương 3 đề xuất mô hình toán học mới và các khái niệm quan trọng cho bài toán cây quyết định tối ưu. Chương 4 trình bày về việc làm sao chúng tôi có thể thu được các mô hình đã có thông qua việc điều chỉnh các giới hạn thời gian và chi phí của các thuộc tính.
Chương 5 báo cáo kết quả thực nghiệm và kết luận; gồm có việc so sánh các kết quả giữa các mô hình, kết luận và đề xuất các hướng phát triển trong tương lai. Tran Quang Toan - 21800025 - KHMT 13 Chương 2 Tổng quan nghiên cứu Phân lớp dữ liệu là một bài toán quan trọng trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, trong đó dữ liệu tương lai sẽ được dự đoán bởi các mô hình được tạo lập từ các dữ liệu huấn luyện. Một số kỹ thuật phân lớp phổ biến có thể kể đến gồm có: phân lớp dựa vào cây quyết định, bộ phân lớp Bayesian, bộ phân lớp mạng Neural và lập luận theo tình huống. Trong các phương pháp này, cây quyết định là phương pháp có khả năng biểu diễn các cấu trúc phức tạp và có hiệu quả tính toán cao, cùng với khả năng tạo ra các quy tắc phân lớp dễ hiểu.
Vì vậy, khóa luận lựa chọn xây dựng cây quyết định tối ưu để phù hợp với các ràng buộc phức tạp thường xảy ra trong các bài toán y tế mà khóa luận hướng tới.1 Cây quyết định tối ưu & phương pháp Hyafil and Rivest [1976] chỉ ra rằng bài toán xây dựng cây quyết định tối ưu chính là một bài toán tối ưu tổ hợp NP-khó với số biến quyết định theo cấp số nhân của dữ liệu đầu vào. Do là bài toán NP-khó, nhiều tác giả đã đề xuất các thuật toán xấp xỉ, tham lam hoặc tối ưu top-down trong đó có thể kể đến Breiman et al. Breiman et al. Điểm yếu của phương pháp tham lam là việc phân tách nút trong của cây quyết định được xác định một cách độc lập và cục bộ mà không xem xét tác động có thể có của các lần phân tách tiếp theo.
Vì yếu tố cục bộ, việc giảm thiểu độ sai lệch tại nút phân nhánh riêng lẻ không thể xem xét hết các các đặc điểm của bộ dữ liệu huấn luyện và do đó, có khả năng dẫn đến hiệu suất phân lớp kém với các dữ liệu thực tế. Một nhược điểm của phương pháp quy nạp từ trên xuống là cần có các quy tắc cắt tỉa cây để bỏ đi những nhánh không hiệu quả. Do các phương pháp này không thể xem xét đầy đủ các hình phạt (penalties) đối với độ phức tạp của cây, các phân tách mạnh có thể ẩn sau các phân tách yếu hơn trong khi phát triển cây. Khi hình phạt độ Tran Quang Toan - 21800025 - KHMT 14 phức tạp (complexity penalty) quá cao, sự phân tách yếu hơn đầu tiên có thể bị ngăn không cho chọn, từ đó không tạo được cây tốt hơn.
Để khắc phục nhược điểm này, quá trình huấn luyện diễn ra theo hai giai đoạn, phát triển cây càng sâu càng tốt thông qua một loạt các quyết định tham lam, sau đó cắt tỉa cây bằng cách sử dụng hình phạt độ phức tạp. Để giải quyết vấn đề phân tách mạnh bị ẩn đằng sau phân tách yếu hơn, các phương pháp heuristic thường được sử dụng, chẳng hạn như một số thiết kế cải tiến của ID3: IDX đề xuất bởi Norton [1989], LSID3 và ID3-k đề xuất bởi Esmeir and Markovitch [2007], nhằm tìm ra các phân tách mới dựa trên việc tối ưu hóa các cây sâu hơn bắt nguồn từ lá hiện tại, thay vì chỉ tối ưu hóa phân tách đơn lẻ. Tuy nhiên, trong Murthy and Salzberg [1995] các tác giả chỉ ra rằng các phương pháp này không đảm bảo sẽ tạo ra các cây có khả năng khái quát hóa tốt hơn và đồng thời tránh cái gọi là sự tiên đoán trong việc xây dựng cây quyết định. Mặc dù việc kết hợp giai đoạn xây dựng và cắt tỉa trong việc phát triển cây quyết định vốn dĩ có thể tốt hơn, nhưng điều này dẫn đến khó khăn trong việc tìm ra giải pháp tối ưu do những hạn chế thực tế về thời gian.
Một số phương pháp heuristic, bao gồm tối ưu hóa tuyến tính trong Bennett [1992], tối ưu hóa liên tục trong Bennett and Blue [1996], quy hoạch động trong Cox et al. [1989]; Payne and Meisel [1977], giải thuật di truyền trong Son [1998], và các phương pháp dựa trên kỹ thuật giảm độ dốc ngẫu nhiên (stochastic gradient descent) trong Norouzi et al. [2015], được áp dụng để phát triển cây chỉ trong một bước. Tuy nhiên, việc tạo ra các cây tối ưu được chứng nhận trong thời gian thực tế bằng cách sử dụng các phương pháp heuristic vẫn còn là thách thức chưa có lời giải.
Sự phát triển của các thuật toán và phần mềm tối ưu nguyên gần đây đã dẫn đến sự xuất hiện của nhiều nghiên cứu xây dụng mô hình toán học cho bài toán cây quyết định. Các mô hình toán học cho phép linh hoạt trong việc mô hình hóa các mục tiêu và ràng buộc khác nhau, như tính công bằng và diễn giải, cũng như các ràng buộc về quy tắc phân nhánh tuyến tính. Rất nhiều phương pháp MIP gần đây đã được đề xuất trong các nghiên cứu. Tuy nhiên, do số lượng biến thường là cấp số mũ của dữ liệu huấn luyện, Các mô hình quy hoạch nguyên thường giới hạn độ sâu của cây để các phần mềm giải chúng có thể hoạt động hiệu quả.
Bertsimas and Dunn [2017] xem xét cả phân tách quyết định đơn biến và đa biến khi xây dựng cây phân loại tối ưu. Cấu trúc của cây không cố định mà được điều khiển bởi một tham số của hàm mục tiêu. Khi giá trị các tham số tăng lên, có thể sẽ dẫn đến nhiều nút lá không ứng với dữ liệu nào và một số nút trong cũng không được gán bất Tran Quang Toan - 21800025 - KHMT 15 kỳ thuộc tính nào. Do đó, kỹ thuật cắt tỉa được kết hợp ngay trong quá trình xây dựng cây thông qua mô hình MIP, được gọi là OCT, thay vì thực hiện từng bước như trong các phương pháp quy nạp từ trên xuống.
Kiểm thử cho thấy rằng OCT cung cấp mức cải thiện 1-2% về độ chính xác trên dữ liệu ngoài mẫu đối với các kiểm thử đơn biến và cải thiện 3-5% đối với các kiểm thử đa biến. Gunluk et al. [2016] đề xuất một mô hình MILP cho bài toán xây dựng cây phân loại dữ liệu có tính chất thuộc tính. Bằng cách khai thác tính chất rời rạc của dữ liệu, các quyết định có thể được xác định dựa trên tổ hợp các kiểm tra tại mỗi nút.
Một lợi thế của kỹ thuật này là số lượng biến số nguyên trong mô hình không phụ thuộc vào kích thước của dữ liệu đào tạo. Bốn cấu hình cây được đề nghị và được đánh giá bằng kỹ thuật xác thực chéo để tìm ra lựa chọn tốt nhất. Các thử nghiệm chỉ ra rằng thuật toán của họ vượt trội hơn CART về độ chính xác với các bộ dữ liệu nhỏ. Dash et al.
[2018] giới thiệu một mô hình ILP để học các quy tắc quyết định Boolean ở dạng chuẩn tắc tuyển hoặc dạng chuẩn tắc hội. Mô hình được đề xuất hoạt động như một mô hình khả diễn để phân loại thông qua phương pháp sinh cột (column generation). Các tác giả xem xét sự đánh đổi giữa độ chính xác và tính đơn giản của các quy tắc được chọn. Kết quả tính toán cho thấy phương pháp sinh cột có khả năng cạnh tranh cao với các thuật toán hiện đại khác.
Áp dụng kỹ thuật tương tự, Firat et al. [2020] sử dụng lấy mẫu ngưỡng trên các nút quyết định để xây dựng cây phân lớp nhị phân đơn biến. Cách tiếp cận của họ đánh đổi sự tối ưu để có được tốc độ xử lý các tập dữ liệu lớn chứa hàng chục nghìn hàng dữ liệu. Verwer and Zhang [2017] đề xuất một cách mã hóa hiệu quả cho việc xây dựng cả cây phân loại và cây hồi quy của các phân tách đơn biến có độ sâu cho trước.
So với Bertsimas and Dunn [2017], mô hình giảm số lượng biến quyết định từ hàm mũ sang hàm tuyến tính. Phương pháp này thu được kết quả tốt trên các cây có độ sâu tối đa là năm và các bộ dữ liệu nhỏ có kích thước tối đa 1000. Để tăng tốc quá trình học, các tác giả đề xuất trong Verwer and Zhang [2019] mô hình quy hoạch nguyên nhị phân, được gọi là BinOCT. Kết quả thực nghiệm cho thấy BinOCT vượt trội hơn mô hình toán học trong Bertsimas and Dunn [2017] trên các bộ dữ liệu mà có không quá 5000 điểm dữ liệu cả về cả độ chính xác và thời gian tính toán.
Gần đây, Aghaei et al. [2020] đề xuất mô hình MIP FlowOCT dựa trên luồng để học cây phân loại tối ưu với các thuộc tính nhị phân. Cây được chuyển sang dạng đồ thị bằng cách thêm nguồn, đích và các cạnh nối các nút của cây với đích. Các điểm dữ liệu có thể xem như luồng bắt đầu từ nguồn, đi qua nhiều nút trong và lá phù hợp, Tran Quang Toan - 21800025 - KHMT 16 sau đó đến đích.
Các tác giả chỉ ra rằng mô hình liên tục tương ứng của họ mạnh hơn so với các mô hình hiện có. Thực nghiệm cho thấy FlowOCT tốt hơn các mô hình đã có cả về chất lượng nghiệm trong mẫu và ngoài mẫu. Verhaeghe et al. [2020] đề xuất hướng tiếp cận quy hoạch ràng buộc (Constraint Programming) để giải bài toán xây dựng cây quyết định tối ưu.
Ràng buộc độ sâu tối đa và ràng buộc hỗ trợ tối thiểu được áp dụng với tìm kiếm nhánh cận (branch-and- bound search). Tuy nhiên, phương pháp này chỉ thích hợp đối với các bài toán phân loại hai lớp. Kết quả kiểm thử cho thấy phương pháp này cung cấp lời giải cạnh tranh so với BinOCT. Thuật toán DL8 được giới thiệu trong Nijssen and Fromont [2007, 2010] dựa trên một nhóm ý tưởng khác với các mô hình dựa trên MIP.
Các tác giả áp dụng kỹ thuật khai phá dữ liệu để tìm kiếm trong không gian các đường đi khả thi một cách hiệu quả và thực hiện quy hoạch động trên các đường đi đó để xây dựng cây quyết định tối ưu. Mô hình này vượt trội đáng kể so với các mô hình dựa trên MIP. Trong Aglin et al.