Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này trình bày có các nội dung: lý do hình thành đề tài, tên đề tài, phạm vi đề tài, tóm tắt phương pháp thực hiện, ý nghĩa thực tiễn của khóa luận, cấu trúc của báo cáo. Chương 2: Cơ sở khoa học của khóa luận. Chương này sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến KPI và việc thực hiện KPI: 1.
Lý thuyết phân tích công việc. Lý thuyết KPI và đánh giá hiệu quả công việc. Thuyết công bằng của John Stacey Adams (1963). Thuyết về thiết lập mục tiêu của Edwin Locke (1968).
Chương 3: Phân tích công việc. Chương này sẽ trình bày quá trình phân tích nhiệm vụ. Tác giả thực hiện phỏng vấn ban lãnh đạo và nhân viên trong công ty để xác định danh sách các nhiệm vụ cho từng vị trí công việc, nhóm chuyên môn, và nhóm dự án. Chương 4: Nhận dạng các chỉ số đánh giá thành tích.
Từ danh sách nhiệm vụ là kết quả của phân tích công việc ở chương 3, tác giả rút ra các tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện cho các nhiệm vụ khác nhau. Các chỉ số này sẽ là nền tảng cho việc đề xuất bộ chỉ số KPI ở chương 5. Chương 5: Đề xuất KPI, mô tả công việc và động viên. Trương Thị Lan Anh SVTH: Đỗ Nguyên Bình 9 Dựa vào các chỉ số đánh giá thành tích ở chương 4, tác giả lựa chọn ra bộ chỉ số đo lường hiệu suất cốt yếu sử dụng cho đánh giá thành tích.
Tác giả cũng tiến hành đánh giá thử một nhóm chỉ số cho một bộ phận nhân viên để rút ra những kinh nghiệm triển khai thực tế. Bản mô tả công việc. Kết hợp kết quả phân tích công việc với bộ chỉ số KPI được đề xuất, tác giả xây dựng bản mô tả công việc hoàn chỉnh cho các vị trí công việc, nhóm chuyên môn, nhóm dự án. Đề xuất động viên nhân viên.
Chương này tác giả đưa ra một số đề xuất ứng dụng bộ chỉ số KPI vào công tác động viên nhân viên nhằm tạo ra một môi trường làm việc lành mạnh, hấp dẫn, có tính cạnh tranh cao. Chương 6: Kết luận. Tác giả tổng kết lại những kết quả đạt được cũng như những mặt hạn chế của đề tài. Đồng thời tác giả cũng đề xuất hướng phát triển tiếp theo cho đề tài để đưa vào áp dụng chính thức tại công ty.
Trương Thị Lan Anh SVTH: Đỗ Nguyên Bình 10 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA KHÓA LUẬN Đề tài dựa trên các cơ sở lý thuyết sau: 2.1 Lý thuyết phân tích công việc Lý thuyết phân tích công việc được phát triển bởi tác giả J. Richart Hackman và Greg R. Tác giả cho rằng công việc có năm đặc trưng cốt lõi sau: Sự đa dạng kỹ năng (task variety) : là mức độ mà công việc yêu cầu sử dụng những kỹ năng khác nhau để thực hiện.
Tính cụ thể của nhiệm vụ (task identity): là mức độ chi tiết của nhiệm vụ từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc. Sự quan trọng của nhiệm vụ (taks significance): là ý nghĩa, mức độ quan trọng của nhiệm vụ. Tính độc lập (independence) : là mức độ độc lập của của công việc so với những công việc khác, đòi hỏi người thực hiện phải thận trọng và trách nhiệm hơn trong hoạch định và thực thi công việc. Sự phản hồi (feedback): thông tin phản hồi từ công việc.
Thông tin này giúp nhân viên hình dung được anh ấy (cô ấy) đã thực hiện công việc tốt như thế nào. Hackman và Oldham cho rằng những yếu tố trên ảnh hưởng đến ba trạng thái tâm lý cốt yếu (nhận thức về ý nghĩa công việc, nhận thức về vai trò của bản thân với công việc, kiến thức từ kết quả công việc) của nhân viên. Những trạng thái tâm lý này sẽ tác động đến sự thỏa mãn trong công việc và vấn đề động viên. Phân tích công việc sẽ giúp xác định đâu là những yếu tố chính yếu ảnh hưởng đến kết quả công việc, những kết quả nào sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu suất công việc.
Đây là tiền đề cho việc đề xuất KPI. Trương Thị Lan Anh SVTH: Đỗ Nguyên Bình 11 2.1 KPI là gì KPI (chỉ số hiệu suất cốt yếu) là những đại lượng định lượng được sử dụng trong tổ chức nhằm phản ảnh những yếu tố thành công chủ chốt của tổ chức (critical success factor). Các đại lượng này là khác nhau với mỗi tổ chức khác nhau. KPI có các yêu cầu sau: Phải phản ánh mục tiêu của tổ chức.
Phải là một yếu tố thành công chủ chốt của tổ chức. Phải định lượng được (có thể đo đếm được). Ví dụ: - Tỉ lệ phần trăm doanh thu đến từ các khách hàng cũ có thể là một trong số các KPI của một công ty. - Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp của một trường đại học có thể là một KPI cho một trường đại học.
- Tỉ lệ phần trăm các cuộc gọi của khách hàng được giải đáp trong phút đầu tiên có thể là một KPI của bộ phận chăm sóc khách hàng.2 Các đặc điểm của KPI Theo David Parmenter, chỉ số hiệu suất cốt yếu có những đặc điểm sau: 1. Là các chỉ số đánh giá phi tài chính (không biểu thị bằng các đơn vị tiền tệ như đô-la, yên, bảng Anh, euro, v. Được đánh giá thường xuyên (ví dụ: hàng ngày hoặc 24/7). Chịu tác động bởi giám đốc điều hành và đội ngũ quản trị cấp cao.
Đòi hỏi nhân viên phải hiểu chỉ số và có hành động điều chỉnh. Gắn trách nhiệm cho từng các nhân hoặc từng nhóm. Có tác động đáng kể (ví dụ: ảnh hưởng đến một hay nhiều yếu tố thành công then chốt [CSF – Critical Success Factor] và ảnh hưởng đến nhiều hơn một chỉ tiêu của thẻ cân bằng điểm [BSC – Balanced Scorecard]). Trương Thị Lan Anh SVTH: Đỗ Nguyên Bình 12 7.
Có tác động tích cực (ví dụ: ảnh hưởng đến các chỉ số khác theo hướng tích cực).3 Phân loại KPI Theo ông Vũ Tuấn Anh, giám đốc điều hành viện quản lý Việt Nam, sáng lập “Society of Human Resource Managent”, có 10 loại KPI thông dụng nhất mà các chuyên gia nhân sự có thể sử dụng (tài liệu tham khảo 7. KPI về quy trình: nhằm đảm bảo công việc được thực hiện theo đúng quy trình đã đề ra. KPI về đầu ra: đo lường năng suất – khả năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ cụ thể của nhân viên. KPI về hiệu năng: đo lường về mức độ sử dụng nguồn lực để tạo ra đầu ra của công ty hoặc tại vị trí công việc.
KPI về hiệu quả: tập trung vào đo lường việc đã làm đúng những điều cần làm chưa. Ví dụ số lượng khách hàng mới cần phát triển. KPI về phát triển năng lực và nguồn lực: đo lường khả năng phát triển nguồn lực cho công ty và tại vị trí làm việc. KPI về tuân thủ: đo lường sự tuân thủ của nhân viên với một khuôn mẫu nhất định về hành vi và thái độ.
KPI về thông tin: sử dụng để hướng dẫn nhân viên xử lý và ghi nhận thông tin theo một dạng khuôn mẫu mà công ty yêu cầu. KPI về dịch vụ khách hàng: dùng để đo lường chất lượng dịch vụ khách hàng. KPI về phát triển các năng lực xã hội: đo lường khả năng cá nhân tồn tại và tương tác với môi trường bên trong công ty. KPI về sáng tạo và đổi mới: đo lường năng lực và khả năng tạo đột phá tại các vị trí làm việc trong công ty.4 Quy trình xây dựng và áp dụng KPI trong tổ chức David Parmenter đã đưa ra mô hình xây dựng và áp dụng KPI 12 bước như sau: GVHD: TS.
Trương Thị Lan Anh SVTH: Đỗ Nguyên Bình 13 Bước 1: sự cam kết của đội ngũ quản trị cấp cao. Bước 2: Thành lập nhóm dự án thực thi chỉ số hiệu suất cốt yếu có sức thuyết phục. Bước 3: Thiết lập quy trình và hình thành văn hóa “just do it”. Bước 4: Xây dựng một chiến lược phát triển chỉ số hiệu suất cốt yếu tổng quát.
Bước 5: Phổ biến hệ thống các chỉ số hiệu suất cốt yếu đến tất cả các nhân viên trong tổ chức. Bước 6: Xác định các yếu tố quyết định thành công của tổ chức. Bước 7: Lưu lại các chỉ số đo lường hiệu suất trong cơ sở dữ liệu. Bước 8: Lựa chọn các phép đo lường hiệu suất cấp độ nhóm.
Bước 9: Lựa chọn các “chỉ số hiệu suất cốt yếu có tính thuyết phục” của tổ chức. Bước 10: Xây dựng khung báo cáo ở tất cả các cấp. Bước 11: Tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng các chỉ số hiệu suất cốt yếu có sức thuyết phục. Bước 12: Điều chỉnh các chỉ số hiệu suất cốt yếu để đảm bảo tính phù hợp.5 Ứng dụng KPI trong đánh giá thành tích Việc sử dụng chỉ số KPI trong đánh giá thành tích là nhằm đảm bảo cho việc đánh giá được minh bạch, rõ ràng, cụ thể, công bằng và hiệu quả vì các chỉ số KPI mang tính định lượng cao, có thể đo lường cụ thể.
Sử dụng KPI sẽ giúp chuẩn hóa quá trình đánh giá. Các loại KPI thường dùng trong đánh giá thành tích gồm: KPI về giao tiếp (communication): đo lường khả năng của nhân viên trong việc trao đổi thông tin với đồng nghiệp, khách hàng, các cấp quản lý. Khả năng giao tiếp càng tốt thì mức độ hiệu quả trong công việc càng cao. Trương Thị Lan Anh SVTH: Đỗ Nguyên Bình 14 KPI về ra quyết định: đo lường khả năng giải quyết vấn đề của nhân viên.
Các KPI loại này cũng tính đến kỹ năng quản lý thời gian và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả của nhân viên. KPI về chuyên môn: đo lường khả năng và kỹ năng cần thiết để nhân viên thực hiện thành công công việc ở vị trí hiện tại. Các kỹ năng này là khác nhau cho các loại công việc khác nhau. KPI về mối quan hệ trong công việc: đo lường các vấn đế liên quan dến thái độ, tinh thần làm việc của nhân viên.
Mối quan hệ công việc không chỉ giữa các nhân viên với nhau mà còn với khách hàng, các cấp quản lý.6 Ứng dụng KPI trong động viên Sử dụng KPI sẽ tạo ra được sự minh bạch và công bằng trong công tác đánh giá nhân viên. Bản thân điều này đã là một yếu tố động viên. Nhân viên cảm thấy mình được làm việc trong một môi trường công bằng hơn. Từ đó họ sẽ yên tâm tập trung vào công việc.