CHƯƠNG 1 Xác định tài sản của vợ chồng như là một yếu tốt quan trọng nhất, nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản vợ chồng với nhau, góp phan làm ôn định các quan hệ xã hội, tạo điều kiện để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản trong suốt quá trình hôn nhân, góp phan điều tiết, ôn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại Phù hợp với sự phát triển về kinh tế- xã hội, theo thời gian, hệ thống pháp luật HN&GD của Nhà nước ta từ năm thời cô luật đến nay đã quy định xác định tài sản của vợ chồng với những nội dung khác nhau. Tác giả đã chỉ rõ những khái niệm về tài sản, khái niệm về CĐTS, khái niệm về tài sản chung, tài sản riêng, cũng như chỉ rõ ra sự phát triển lịch sử Việt Nam trong việc phân chia tài sản của vợ chồng. Đặc biệt, việc quy định rõ xác định tài sản còn thành công lớn trong việc cải cách xóa bỏ “trọng nam khinh nữ”, đảm bảo quyền lợi của vợ chồng khi ghi nhận CDTS của vợ chồng trong Luật HN&GD năm 2014. 15 CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH TÀI SAN CUA VO CHONG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.
NGUYÊN TAC CHUNG CUA CHE ĐỘ TÀI SAN Theo quy định của luật Hôn nhân va gia đình năm 2014, dù vợ chồng chọn chế độ tài sản nào thì vẫn phải tuân thủ nguyên tắc của chế độ tài sản đó. Điều này đảm bảo rằng các quy định và nguyên tắc của chế độ tài sản được áp dụng một cách công bằng và minh bạch trong việc quản lý và chia sẻ tài sản trong quan hệ hôn nhân. Điều 29 Luật HN&GD năm 2014 quy định : “1. Vợ chong bình dang với nhau về quyên, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phán biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nháp.
Vợ, chong có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện dé đáp ứng nhu cau thiết yếu của gia đình. Việc thực hiện quyên, nghĩa vụ về tài sản của vợ chông mà xâm phạm đên quyên, lợi ích hợp pháp của vợ, chông, gia đình và của người khác thì phải bôi thường.” Do CĐTS có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của cá nhân vợ, chồng cũng như các thành viên trong gia đình và quyên, lợi ích của những người có liên quan cũng như sự ồn định của các quan hệ tài sản trong các mỗi quan hệ dân sự nói chung, nên Luật HN&GD năm 2014 đã quy định về các nguyên tắc chung khi áp dụng các CĐTS của vợ chồng 2. Nguyên tắc bình dang với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tao lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình va lao động có thu nhập. Trong đời sống chung của vợ chồng, ngoài tình cảm là sự gắn bó của vợ và chồng thì tài sản là sự duy trì cuộc sống chung của vợ chồng.
Vợ chồng cùng chung sức, cùng duy trì khôi tài sản chung do đó rât khó đê xác định phân tài sản của vợ 16 hoặc của chông nên vợ chông có quyên ngang nhau trong việc hưởng thụ, sử dụng và định đoạt khối tài sản chung. Không chỉ quy định "vợ, chồng bình dang với nhau về quyên, nghĩa vụ trong việc tao lap, chiếm hữu, sử dung, định đoạt tai sản chung", Khoản 1 Điều 29 Luật HN & GD năm 2014 còn quy định: "không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập". Điều này cho thấy "lao động trong gia đình" (công việc nội trợ, chăm sóc con cái,.) hầu hết đều do người vợ thực hiện đã được pháp luật ghi nhận công bang với lao động tạo ra thu nhập thường do người chồng thực hiện. Quy định có ý nghĩa rất lớn, nhất là trong trường hợp người vợ, chồng thực hiện chế độ tài sản riêng thì khi châm dứt chế độ tài sản nguoi vo, chồng làm công việc nội trợ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán cho mình phần tài sản tương đương với phân công sức đóng góp của mình.
Hiện nay không chỉ có người chồng trong gia đình làm kinh tế mà người vợ cũng đã bắt đầu làm kinh tế để phát triển gia đình do đó cả vợ và chồng đều có tài sản do mình tạo ra trước khi kết hôn, trong thời kỳ hôn nhân. Việc vợ, chồng muốn thỏa thuận tài sản trước khi kết hôn dé phân định rõ tài sản sau khi kết hôn là điều dễ hiểu bởi mỗi người đều có nhu cầu cá nhân riêng. Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn phát triển của Việt Nam và thế giới trong xu hướng bình đăng giới đang được nâng cao, đặt ra trong mọi lĩnh vực của đời sông và đặc biệt là đời sông chung của vợ chông. Nguyên tắc có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
Hôn nhân là hiện tượng trong xã hội, là sự gan kết của người nam nữ dựa trên những yếu tố tự nhiên. Xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững là một trong những mục đích quan trọng của hôn nhân. Gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình hạnh phúc thì xã hội mới 6n định, văn minh. Vì vậy, đám bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình là điều quan trọng, đảm bảo cuộc sống cho các thành viên trong gia đình là trách nhiệm của vợ chông.
Khoản 2 Điều 29 Luật HN & GD năm 2014 có quy định: “Vo, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điêu kiện dé đáp ứng nhu câu thiết yếu của gia đình. " 17 Cu thé hơn, Điều 30 Luật HN & GD năm 2014 quy định về quyền, nghĩa vu của vợ, chông trong việc đáp ứng nhu câu thiệt yêu của gia đình như sau: “1. Vợ, chong có quyên, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu câu thiết yếu của gia đình 2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ dé đáp ứng nhu câu thiết yếu của gia đình thì vợ, chang có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.
" Theo đó, dù vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản nào, có tài sản hay không có tài sản thì vợ, chồng cũng phải đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình. Khoản 20 Điều 3 Luật HN & GD năm 2014 quy định: "Nhu cau thiết yếu là nhu câu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cẩu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình. “Tùy theo khả năng kinh tế của mình mà vợ, chồng phải đảm bảo cuộc sông cho gia đình, những nhu cầu thiết yếu diễn ra hàng ngày. Đối với gia đình, chỗ ở là việc rất quan trọng và đòi hỏi sự ôn định.
Điều 31 Luật HN & GD năm 2014 quy định: “Viéc xác láp, thực hiện, chẳm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chong phải có sự thỏa thuận của vợ chong. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chong thì chủ sở hữu có quyên xác lập, thực hiện, cham dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bao dam ché ở cho vợ chong. " Nhu vậy, đối với tai san là nhà — nơi ở duy nhất của vo chong thì việc định đoạt phải có sự đồng ý của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở là tài sản riêng của vợ, chồng thi với chồng có quyền định đoạt đối với tài sản này, tuy nhiên nếu đây là chỗ ở chung của vợ chồng thì việc định đoạt phải được sự đồng y của cả vợ va chồng.
Hay nói cách khác, nhà ở là tài sản riêng của vợ. chồng thì việc định đoạt van cân có sự thỏa thuận của vợ chong nêu đây là nơi ở chung của vo chong. Có thé thấy VIỆC VỢ chồng lập văn bản thỏa thuận về tài sản trước khi kết hon, trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng dé áp dụng trong mọi trường hợp và những biện pháp bảo đảm thực hiện sẽ bảo vệ được lợi ích 18 của gia đình, không phá vỡ tính cộng đông của hôn nhân đông thời cùng cô môi quan hệ gia đình hơn. Nguyên tắc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài san của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.
Khoản 3 Điều 29 Luật HN & GD năm 2014 quy định: "3. Việc thực hiện quyên, nghĩa vụ về tài sản của vợ chong mà xâm phạm đến quyên, lợi ích hợp pháp của vợ, chong, gia đình và của người khác thì phải boi thường. " Theo đó quyên, lợi ích hợp pháp của vợ chồng, gia đình và người khác khi thực hiện giao dịch với vợ, chồng được pháp luật bảo vệ. Để đảm bảo an toàn cho bên thứ ba khi thực hiện giao dịch với vợ chồng, Diéu32 Luật HN & GD năm 2014 quy định như sau: "1.
Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chang là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyên xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đên tài san do. Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vo, chong dang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyên sử hữu được coi là người có quyên xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản do trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tinh." Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, việc lập tài khoản ngân hàng hay tài khoản chứng khoán cũng hết sức dé dàng, trong ngành tài chính, ngân hàng chỉ yêu cầu chủ tài khoản có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản mà không yêu cầu xác mình tình trạng hôn nhân của người đó. Căn cứ vào đó, đối với tài sản là tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán chỉ đứng tên một người sẽ thuận tiện hơn cho vợ, chồng khi thực hiện các giao dịch có liên quan. Quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thứ ba mà còn mang lại lợi ích cho vợ, chồng: do người thứ ba không cần tìm hiểu tỉnh trạng hôn nhân cũng như chế độ tài sản mà vợ, chồng đang thực hiện với mình; vợ, chồng dễ dàng thực hiện giao dịch với bên thứ ba mà không cần phải chứng minh về tỉnh trạng của mình.