CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LY LUẬN VE SINH CON BẰNG KỸ THUAT HỖ TRỢ SINH SAN VÀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP THỤ TINH TRONG ÓNG NGHIỆM. Khái quát chung về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Khái niệm sinh con bằng Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ‘Theo ước tính hiện nay đã có hang triệu người trên thé giới được sinh ra từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART). Tại Châu Âu, hiện nay có từ 1 - 5% trẻ sinh.
ra hang năm 1a kết quả của các biện pháp hỗ trợ sinh sin. Ở một số nước Bắc. Âu, hàng năm có gần 2000 trường hợp ART trên 1 triệu dan’. ART hiện lả một phân ngành quan trong trong Sän Phụ khoa hiện đại và một bộ phân.
không thể thiên ở héu hết các trung tâm Sản - Phụ khoa trên thé giới Với sự phát triển của ART trên thé giới đã tạo điều kiện vô cùng thuận. loi cho việc điều tri vô sinh, hiểm muộn cho các cặp vơ chồng, bên cạnh đó còn tạo điều kiện thực hiện thiên chức làm mẹ đổi với những người phụ nữ độc thân, mỡ ra một thời kỳ mới mang lại hy vong cho những người vô sinh, đẳng nghĩa với việc vô sinh nhưng không vô vọng. Cùng với những gi trị vô củng lớn vé mat y học, xấ hôi thi việc phát triển ART cũng mang dén những, khía cạnh pháp lý mới khi ma quan hệ cha, me, con được pháp luật thừa nhân. không chỉ dựa trên những căn cứ truyén thống, mà còn phải ghi nhân những căn cử y — khoa học Kj thuật hỗ tro sinh sin (Assisted Reproductive Technology A.T) tinh trùng được sử dung Nói chung ART là công tac pl thuật lấy trứng từ buồng trứng của một người nữ, kết hop với tinh tring của một người nam, sau đó đem trở vào người nữ đó hay một người nữ khác? Bên cạnh đó ở Cannada, Luật hỗ trợ Sinh sản năm 2004 có đưa ra khái niệm: “KV thudt hổ.
Jp Thos em rg (la [Non hang hi thuc ho-to- sag 70 ‘ao tut Chứng chive mate th ông cũ cc phông y teh tr sh in Hos Teak 2006 trợ sinh sản là các Kf thuật hỗ trợ. thao tác sinh học tác động đễn quá trình sinh sản tự nhiên của con người nhằm điều trị vô sinh“? Luật dao đức sinh học của Pháp lại đưa ra khái niệm: “Kỹ thuật to sinh sẵn là thuc hiện về mặt lâm sảng hoặc về mặt sinh hoc việc tìm tịnh trong dng nghiệm, hen giữ các giao tit tễ bào gốc, phôi, cấp truyền phôi và tu tính nhân tạo. "* Pháp luật Việt Nam cũng đã dé cập đến khái niệm Sinh con bang kỹ thuật hỗ trợ sinh sin đỏ là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tính trong ông nghiêm”, day 1a hai kỹ thuật được áp dụng một cách phổ iển trên thể giới. ‘Theo quan điểm của tác gia khái niệm kỹ thuật hỗ trợ sinh sản của Đạo.
luật về chứng chỉ và mức thánh công của Hoa Kỷ chưa day đủ vả bao quát được các phương pháp hỗ trợ sinh sản hiện nay. Luật HN&GD năm 2014 cũng chi liệt kê hai phương pháp đó là TINTva TTTON. Tuy nhiên, thực tế hiện nay có những cp vợ chồng ho gấp vẫn để do trứng của người vợ không phát triển va rụng theo chu kỷ, hay rồi loạn chu ky kinh nguyệt dẫn đến khó thu thai, trường hợp này trên thực tế các bac sĩ sản khoa không phải lúc nào cũng sẽ lựa chọn phương pháp TTNT hoặc TTTON. Bac i sản khoa có thé lựa chọn tiém HCG5 kích thích các nang trong buồng trứng trưởng thành phát triển, nhờ đó trứng trưởng thảnh có khả năng rụng.
đúng thời điểm hơn, tăng kh năng thu thai khi hai vợ chẳng tiến hành giao hợp vào thời kỷ rụng tring ‘Vi thé theo tac giả: Sinh con bằng i thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con due trên sự cam thiệp, hỗ trợ của Xỹ thuật y sinh học hiện đại aa được pháp luật công nhận vào qué trình sinh sản tự nhiên nhằm mang đến két quả. Điều 3 Lait H tự sah sin năm 2004 ia Cama “Bu L2141-1 Last Bao đc sie nd 2004 của Pip ° Ehgän 21, Babu 3 Lait HNGGD sấm 2016 HCG Ga Chorionic Gonadotropin) dng sé ngniermat phn uy đ làm tăng hiện gui đều về hinh nền ở nữ a No có chu rue gang vớihotreshe HCG mut hn với hàm hưng co gai dou đấn cà tuỳ 10 Tìm thai và sinh con. Việc sinh con bing kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có sự khác. biệt rất lớn so với sinh con tự nhiên cho nên nó sé có những khác biệt nhất định trong việc xác định cha, me, con đối với trường hợp sinh con thông, thường 1.12 Một số phương pháp hỗ trợ sinh sin Phương pháp hỗ trợ sinh sản từ lâu đã tr thảnh giải pháp giúp cho ‘hang triệu cặp vợ chồng trên thé giới tiền đến gan hơn ước mơ lam cha, mẹ.
Phương pháp hỗ trợ sinh sản gồm những kỹ thuật điều trị vô sinh, hỗ trợ sinh. sản, theo quan điểm của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức thi các kỹ thuật được coi 1ä phương pháp hỗ trợ sinh sản sẽ khác nhau. Trong bai luân của minh tác giả đi vào tìm hiểu một số phương pháp hỗ trợ sinh sản chính theo quan điểm của. y học va pháp luật Việt Nam đó 1a: Thu tinh nhân tao, thụ tinh trong ông nghiệm va mang thai hô vì muc đích nhân tạo.
Phương pháp thu tính nhân tao “Xã hội phát triển đã thừa nhận kỹ thuật hỗ trợ sinh sin nói chung va thụ tinh nhân tao nói riêng là một phan quan trong trong điều trị hiểm muộn. vô sinh, đây là phương pháp được áp dụng phổ biển trên thực tế giúp tăng khả năng thu thai thành công mang lại hy vọng lam cha, mẹ cho rat nhiều người Phương pháp nảy sử dụng các kỹ thuật y học để tạo điều kiện cho quá trình. thụ thai được dién ra thuận lợi nhất tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Thu tinh nhân tao đưới góc đô y học được hiểu là thủ thuật được tiến.
hành bang cách chon lọc tinh trùng khỏe nhất của người chồng, hoặc tinh trùng từ ngân hang tinh trùng sau do bơm vao buồng tử cung của người vợ ở thời điểm rụng trứng để tạo phôi thai. Các văn bản điều chỉnh vẫn để thụ tỉnh nhân tạo ở Việt Nam hiện nay đó là: Thông tư số 12/2012/TT-BYT, thông tư số 57/2015/TT-BYT tuy nhiên những văn bản néy đều không có quy định về khái niệm thụ tỉnh nhân tao. Chủ thể được thực hiên phương pháp TINT được quy định tại thông tư ir 13/2013/TT-BYT” đồ là cấp vợ chẳng vô sinh và người phụ nữ độc thân có niu cầu sinh con bằng phương pháp nay. TTNT thưởng được chỉ định cho các trường hợp vô sinh liên quan đến quá trình giao hợp không được thuận lợi, hay các bệnh vé ming âm dao, tử cung lâm cho tinh trùng giảm hay mắt khả năng thu tinh, Việc áp dung kỹ thuật TINT có nguy cơ dan đền đa thai, nguy cơ nhiễm trùng khi thực hiện nếu co sỡ y tế không được trang bi tốt? chính vi vậy việc thực hiện TTNT cần được theo dối sát sao bởi chuyên gia y té TTTON là phương pháp tơ sinh sản mang lại hiệu quả cao nhất tiện nay, lả sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng trong ông nghiệm để tạo thánh.
phôi "Thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization) được biết đến sớm nhất vào năm 1890 khi giáo sự, bác sf tại Đại học Cambridge Walter Heape đã tiến hảnh nghiên cứu sinh sin ở một số loài động vật và báo cáo trường hợp dau tiên cây ghép phôi thai ở Th6. Tiếp đó vào năm 1978, giáo sư Steptoe và Edvvards thực hiện TTTON và chuyển phối vào buồng tử cung cho một người phụ nữ bị tắc hai vai trứng va kết quả là vào ngày 25/07/1978 be gai đầu tiên đã chảo đời bằng phương pháp TTTON tại Anh? Pháp luật Việt Nam cũng đưa ra khải niêm TTTON lả sự kết hợp giữa nod và tinh trùng trong ông nghiệm để tạo thành phôi Hay nói cách khác, phương pháp TTTON là phương pháp mã trứng va tinh trùng được thụ tỉnh ‘bén ngoái cỗ tử cũng của người phụ nữ. Đây là phương pháp điều trị hiểm muộn trong các trường hợp: Tắc nghẽn ống dẫn trứng, lạc nội mac tử cung. tinh trùng ít, yéu, di dang, xin trứng,.
Ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát TRoần2 Điều 7 Thông arsể 12001277 BYT ° Céngngh hỗ ự chủ sin Pham Vin Phúc (hả bổn) 3015, ND. Khas học vỉ Sỹ đuật Tp, Hỗ Chí Mai “Te /Binnouorgueotưnoithong Lich scot thệ tong ong nghàh/7T6 asp “Khoản1 Bisa? Ngự dnt sẽ 1ON01SIND-CP rey triển vượt bậc nhiêu công nghệ mới ra đời cảng làm cho tỷ lệ thành công của phương pháp nay tăng cao. Quy trình TTTON thường được bắt đầu từ việc khám sức khỏe sinh sin và tiến hành các xét nghiêm cân thiết sau đó tiền hành kích thích buồng trứng để trứng phát triển đủ lớn sẽ thực hiện chọc hút trứng va lây tinh trùng để thụ tinh trong ống nghiêm, sau khi phôi được tao thảnh sẽ được nuôi ở môi trường bên ngoài từ 2 — 5 ngày sau đó được chuyển vào tử cung của người phụ nữ hoặc là đưa trữ đông trong trường hợp người phụ nữ chưa có điều kiện sảng để mang thai. Sau hai tuân từ khi phôi được đặt véo buông tử cung của người phụ nữ, sẽ biết được thai có đâu hay không, 1.
Mang thai hộ vì nue dich nhân dao Trước hết, phải khẳng định cho phép mang thai hộ không phải là cho phép dé thuê. Pháp luật Việt Nam đã cdi mỡ hơn khi quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, điều nay đã bão đăm quyển lâm mẹ chính đảng của mọi phụ nữ và người mang thai hộ không vì mục đích lợi nhuân. Mang thai hộ thể hiện sự nhân văn của pháp luật khi ma tạo điều kiện cho những cấp vợ chồng vô sinh có thể có được đứa con của riêng mình thông qua sự giúp đỡ của một người phụ nữ. Sự ra đời của đứa trẻ cỏ ý nghĩa vô cing quan trong nhằm duy trì noi giống, gắn kết và giữ gìn hạnh phúc gia đỉnh, gia đính.
‘hanh phúc, phát triển có ý nghĩa vô cùng lớn đối với sự phát triển của xã hội.