CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Vốn xã hội và các khái niệm liên quan 1. Vốn xã hội (Social capital) Vốn xã hội là một trong những thuật ngữ quan trọng và phổ biến nhất trong nghiên cứu chính trị - xã hội nửa sau thế kỷ XX. Thuật ngữ vốn xã hội được xác định có khác biệt với các loại vốn kinh tế (Economic capital), vốn văn hóa (Cultural capital).
Nếu như vốn kinh tế được hiểu theo nghĩa là tư liệu sản xuất, hàng hóa hay vốn tài chính thì vốn văn hóa là sự thích ứng tri thức của cá nhân: giáo dục chính quy và không chính quy, kỹ năng gộp nhập giáo dục cần thiết; năng lực cá nhân và xã hội để đạt được những kỹ năng này. Vốn xã hội được hiểu là nguồn lực dựa trên mạng lưới với các thành viên gia đình, bè bạn, quan hệ và định chế (Khúc Thị Thanh Vân, 2011, tr. Tác giả Nguyễn Quý Thanh (2016) trong công trình nghiên cứu về vốn xã hội có đưa ra nhận xét: Xét về mặt từ nguyên, vốn xã hội là một khái niệm gây tranh cãi và có cách hiểu chưa thống nhất trong giới học giả bởi vì nó có những biểu hiện ở nhiều cấp độ, hình thức và nội dung khác nhau, từ vi mô, trung mô đến vĩ mô.21) Khái niệm vốn xã hội được nhà giáo dục người Mỹ Lyda Judson đưa ra đầu tiên vào năm 1916 khi ông nghiên cứu về vấn đề trường học ở vùng nông thôn Bắc Mỹ. Trong luận văn này, tác giả xin đề cập đến một số khái niệm điển hình về vốn xã hội của Pierre Bourdieu, James Coleman và Robert Putnam.
Ông cho rằng “Vốn xã hội là tổng hợp các nguồn lực thực tế hoặc tiềm năng có liên quan đến sở hữu một mạng lưới bền vững ít nhiều được thể chế hóa mối quan hệ của người quen và công nhận lẫn nhau” [51]. 13 Trọng tâm nghiên cứu của Bourdieu: quan hệ quyền lực, mạng lưới, các chiến lược hợp lý, lợi ích cá nhân. Mạng lưới các mối quan hệ là sản phẩm của các chiến lược đầu tư, cá nhân hoặc tập thể, có ý thức hoặc vô thức nhằm mục đích thiết lập hoặc tái tạo các mối quan hệ xã hội có thể sử dụng trực tiếp trong ngắn hạn hoặc dài hạn, tức là chuyển đổi các mối quan hệ ngẫu nhiên, (tình cảm, tôn trọng, tình bạn…) hoặc các quyền được bảo vệ theo thể chế (các quyền) của các khu phố, nơi làm việc, hoặc thậm chí quan hệ họ hàng, thành những mối quan hệ cần thiết và tự chọn ngay lập tức…(Bourdieu, 1986) Ông phát biểu thêm rằng: “Vốn xã hội là tổng hợp các nguồn lực, thực tế hoặc ảo, có liên quan đến một cá nhân hoặc một nhóm do sở hữu một mạng lưới bền vững có ít hoặc nhiều mối quan hệ được thể chế hóa về sự hiểu biết và nhận thức lẫn nhau.” (Bourdieu, 1986) Vốn xã hội phải được hiểu là có hai thành phần: quy mô mạng lưới của một cá nhân và khối lượng vốn mà các bộ phận khác của mạng có. Vốn xã hội được tích lũy như là kết quả của một chiến lược đầu tư có ý thức hoặc vô thức.
Bourdieu nhấn mạnh tới vốn xã hội với tư cách là một thứ tài sản và phân tích vốn xã hội trong mối quan hệ với các loại vốn khác gồm vốn kinh tế biểu hiện ở của cải, tài sản vật chất; vốn văn hóa biểu hiện ở các tri thức văn hóa tích lũy được như học vấn trí tuệ, phong cách nói năng, ăn mặc, hoặc thậm chí cả hình thức trang điểm, hoặc vốn biểu tượng (Symbolic capital) biểu hiện ở danh dự, uy tín hoặc sự công nhận như là những giá trị trong một nền văn hóa. Đối với Bourdieu, vốn xã hội không thể tồn tại một cách độc lập với các loại vốn khác, những loại vốn này không tĩnh mà có thể thay đổi và chuyển hóa cho nhau, chúng không tách biệt mà tương hỗ, liên hệ mật thiết với nhau. Năm 1988, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman đưa ra cách định nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu. Coleman chỉ ra, vốn xã hội gắn với cấu trúc xã hội nhất định và mang đặc điểm của cấu trúc đó, vốn xã hội giúp chủ thể hành động (là cá nhận hoặc tập thể) thực hiện những hoạt động nhất định nhằm đạt mục đích 14 của họ, và việc đạt được mục đích cũng được xem là thực hiện chức năng của vốn xã hội đối với cấu trúc xã hội đó.
(Nguyễn Quý Thanh, 2016) Nó không phải là một thực thể đơn lẻ, mà là một sự đa dạng gồm các thực thể khác nhau với hai yếu tố chung: tất cả chúng đều bao gồm một số khía cạnh nào đó của cấu trúc xã hội, và chúng đơn giản hóa các hành động nhất định của các chủ thể - dù là các cá nhân riêng lẻ hay tập thể - trong lòng cấu trúc xã hội đó. Giống như các hình thức vốn khác, vốn xã hội mang tính hiệu quả, nó giúp mục đích có thể đạt được một cách dễ dàng hơn, còn nếu thiếu nó, thì không thể đạt được mục đích đó. (Coleman, 1988) Theo Coleman (1990) “Giống như các hình thức vốn khác, vốn xã hội là năng suất, tạo ra có thể đạt được những kết thúc nhất định sẽ không có thể đạt được khi nó vắng mặt”. Trọng tâm nghiên cứu của Coleman là: xã hội hóa, gia đình, các chiến lược, lợi ích xã hội.
Khác với Bourdieu và Coleman, Putnam cho rằng vốn xã hội như là một thứ tài sản chung của một cộng đồng hay một xã hội nào đó. Vốn xã hội mà Putnam (1995) nói đến gồm “Các tính năng mạng lưới xã hội – xã hội, định mức, và sự tin cậy – cho phép người tham gia hợp tác với nhau hiệu quả hơn để theo đuổi các mục tiêu chung… Trong phạm vi các định mức, mạng lưới, và sự tin tưởng liên kết các khu vực quan trọng của cộng đồng…”. Putnam là tác giả đã đưa ra hai loại hình vốn xã hội: vốn xã hội bắc cầu (Bridging social capital) và vốn xã hội ràng buộc (Bonding social capital). Vốn xã hội bắc cầu nối kết những con người vượt qua những khác biệt về kinh tế xã hội, ví dụ như các phong trào xã hội đấu tranh cho nhân quyền, đấu tranh bảo vệ môi trường kết hợp được nhiều người thuộc chủng tộc, tầng lớp xã hội khác nhau.
Trong khi đó, vốn xã hội ràng buộc củng cố liên kết của các nhóm đồng nhất, của những người giống tôi “like me” như những tổ chức cùng tộc người, cùng tôn giáo. Theo Putnam (1995): “Tôi muốn nói đến những nét đặc trưng của đời sống xã hội, các mạng lưới, các định mức và tin cậy, cho phép người tham gia hành động với nhau hiệu quả hôn để thu hút điều kiện các mục tiêu chia sẻ”. Thứ nhất, vốn xã 15 hội cho phép công dân giải quyết các vấn đề tập thể dễ dàng hơn… Mọi người thường đạt hiệu quả tốt hơn nếu họ hợp tác cùng nhau và chia sẻ. Thứ hai, vốn xã hội như mỡ bôi trơn các bánh xe giúp cộng đồng cùng tiến lên phía trước… Thứ ba, vốn xã hội cải thiện chúng ta rất nhiều trong việc mở rộng ý thức.
Quan niệm về vốn xã hội của Putnam có ba thành tố: nghĩa vụ và chuẩn mực đạo đức, giá trị xã hội (đặc biệt là lòng tin) và mạng xã hội (đặc biệt là hiệp hội tự nguyện). Theo Putnam là nếu một khu vực có một hệ thống kinh tế hoạt động tốt và mức độ hội nhập chính trị cao, đây là kết quả của sự tích lũy vốn xã hội thành công của khu vực. Putnam (1993) phát biểu rằng: “Mạng lưới, các chuẩn mực và sự tin tưởng tạo điều kiện phối hợp và hợp tác, hoạt động vì lợi ích lẫn nhau”. Trọng tâm nghiên cứu của Putnam: truyền thống dân sự, hệ thống chính trị, lợi ích xã hội.
Những đóng góp lý thuyết chính của Bourdieu, Coleman, Putnam đều đồng ý rằng vốn xã hội gắn liền với quan hệ xã hội nhưng chúng khác nhau theo quan điểm của họ về việc sử dụng vốn xã hội. Coleman tập trung vào việc sử dụng vốn xã hội cá nhân; Bourdieu về việc sử dụng vốn xã hội của một số nhóm xã hội nhất định; Putnam tập trung vào chức năng của vốn xã hội cho cộng đồng. Hơn nữa, Coleman tập trung vào việc sử dụng vốn xã hội cho các mục đích giáo dục; Bourdieu nhấn mạnh việc sử dụng vốn xã hội trong kinh doanh hoặc để tìm kiếm việc làm và địa vị xã hội. Cuối cùng, Bourdieu nhấn mạnh đến sự kết nối của vốn xã hội với vốn kinh tế và vốn văn hóa trong việc sản sinh của lớp bất bình đẳng và phân cấp, trong khi Coleman thấy rằng vốn xã hội là phân phối dân chủ hơn nhiều so với các hình thức vốn khác và do đó một động cơ mạnh mẽ của tính di động xã hội.
Trên thực tế, có nhiều nghiên cứu về vốn xã hội với nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu vốn xã hội thường được định nghĩa xoay quanh ba yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau là: khả năng làm việc chung với nhau, sự tin cậy giữa con người với nhau và các mạng lưới xã hội (“Lòng tin và vốn xã hội”, 2013, tr. Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn, như khả năng tiếp cận và huy động các nguồn lực được gắn vào 16 các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức, cơ hội việc làm, tình cảm, các chuẩn mực, giá trị. “Ý tưởng trung tâm của vốn xã hội đó là mạng lưới xã hội là tài sản quan trọng. Mạng lưới là nền tảng cho sự cố kết xã hội do nó cho phép con người hợp tác với nhau, kể cả những người không quen biết trực tiếp vì một lợi ích chung.
Con người được gắn kết nhiều hơn thì sẽ hưởng được nhiều kết quả hơn”. (Ngô Thị Phương Lan, 2014, tr.19-20) Ngoài ra, vốn xã hội được xây dựng trên cơ sở các cá nhân cùng chia sẻ những chuẩn mực và quy tắc để tạo ra sự tin cậy lẫn nhau. Sự tin cậy này cho phép các cá nhân quan hệ và hợp tác với nhau để tạo ra các mạng lưới xã hội.