mở đầu cho việc nhìn nhận, đánh giá vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển của làng nghề ở các khâu: đầu vào nguyên liệu, quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm từ các làng nghề. Bên cạnh đó, việc áp dụng lý thuyết xã hội học vào giải thích vấn đề góp phần làm sáng tỏ cách thức vận dụng các lý thuyết xã hội học vào nghiên cứu vai trò của vốn xã hội (niềm tin; giá trị và chuẩn mực; liên kết và mạng lưới xã hội) trong việc nhập nguồn nguyên liệu, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm của làng nghề. Ý nghĩa thực tiễn Nghiên cứu về vai trò của việc sử dụng vốn xã hội trong phát triển làng nghề Mộc đặt trong bối cảnh nông thôn mới sẽ là tài liệu quan trọng cung cấp cho các cá nhân, tập thể, những nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách cái nhìn tổng thể hơn về các vấn đề vận dụng vốn xã hội trong phát triển làng nghề. Cụ thể, trước hết, đề tài sẽ trả lời được câu hỏi, liệu rằng vốn xã hội có được các chủ cơ sở nghề Mộc vận dụng liên tục trong đời sống cũng như trong quan hệ sản xuất hay không.
Đồng thời, đề tài cũng phản ánh thực trạng các chủ cơ sở nghề mộc sử dụng vốn xã hội, 3 z các mối quan hệ xã hội của họ như thế nào để có thế mua được nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ, hợp lý và đồng thời gây dựng được lòng tin đối với các đối tác cung cấp nguyên liệu.Ngoài ra, đề tài cũng phản ánh mức độ sử dụng vốn xã hội trong việc sản xuất và bán các các sản phẩm đồ gỗ của các chủ cơ sở nghề mộc như thế nào. Với những kết quả như vậy, đề tài cho người đọc thấy được ngoài việc sử dụng các loại vốn khác như: vốn kinh tế, vốn con người trong sản xuất thì các chủ cơ sở nghề Mộc còn sử dụng vốn xã hội như là một nguồn lực quan trọng để phát triển.Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng cho các làng làng nghề Mộc nói riêng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và nhiều làng nghề khác trên địa bàn cả nước. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3. Quan điểm về vốn xã hội Vốn xã hội thuật ngữ được sử dụng vào đầu thế kỷ XX bởi nhà giáo dục học người Mỹ LydaJudson Hanifan khi ông bàn đến vấn đề trường học ở vùng nông thôn Bắc Mỹ (Khúc Thị Thanh Vân, 2011).
Theo ông, vốn xã hội là những thứ được nhắc đến nhiều nhất trong đời sống của con người, cụ thể: Thiện ý, tình bằng hữu, sự đồng cảm lẫn nhau, sự giao tiếp xã hội giữa những con người với nhau và giữa các gia đình với nhau tạo thành một đơn vị xã hội. Trên quan điểm đó, tác giả Nguyễn Tuấn Anh (2011) đưa ra quan điểm: Nếu cá nhân giao tiếp với láng giềng của họ và họ giao tiếp với những người láng giếng của chính họ dần dần sẽ dẫn tới tích tụ vốn xã hội tại cộng đồng dân cư (trích từ Khúc Thị Thanh Vân, 2011). Tiếp nối quan điểm của LydaJudson, năm 1983 Pirre Bourdieu cho rằng: “vốn xã hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong xã hội và bất cứ ai cũng có thể khai thác vốn xã hội nhằm đem lại các lợi ích kinh tế thông thường” (Bourdieu, 1983. Trích từ Khúc Thị Thanh Vân, 2011).
Bên cạnh đó, Bourdieu cho rằng: vốn xã hội là tổng hợp các nguồn lực, hữu hình hay vô hình hoặc sự tích lũy của một cá nhân hay một nhóm bởi một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ có đi có lại, có 4 z mức độ thể chế hóa nhiều hay ít đã được thừa nhận (Bourdieu và Wacquant, 1992, p. Trích từ Hoàng Bá Thịnh, 2009). Halpern đưa ra nhận định về vốn xã hội ở phạm vi vĩ mô: “Vốn xã hội được định nghĩa bằng chức năng của nó. Nó không phải là những thực thể riêng lẻ mà là những thực thể đa dạng, với hai thành tố chung: chúng bao gồm một số khía cạnh của cấu trúc xã hội và tất nhiên là chúng linh hoạt trong các hành động của các tác nhân – dù các cá nhân hoặc liên kết các tác nhân – trong cấu trúc đó.
Cũng giống như các hình thức khác của vốn, nhờ vốn xã hội có thể đạt được những mục tiêu cụ thể mà nếu không có vốn xã hội thì không thể đạt được” (Halpern, 2005:39. Trích từ Hoàng Bá Thịnh, 2009). Ngân hàng thế giới, định nghĩa: vốn xã hội liên quan tới thể chế, các mối quan hệ cá nhân, liên cá nhân được định hình bởi thể chế, điều này được thể hiện qua số lượng và chất lượng của các tương tác xã hội. Thực tế cuộc sống cho thấy tính gắn kết trong xã hội rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và phát triển bền vững.
Vốn xã hội không chỉ là tổng hợp các thể chế mà còn là chất keo dính gắn kết các cá nhân, nhóm xã hội với nhau (World Bank, 1999, dẫn theo Halpern, 2005:16. Khác với Halpern, Putman phân tích khái niệm vốn xã hội ở khía cạnh vi mô: vốn xã hội được hình thành từ các mối liên hệ trong mạng kết nối giữa con người với nhau, giữa con người với xã hội, về những mối quan hệ tạo ra sự tin cậy lẫn nhau, các chuẩn mực được hình thành từ những mối quan hệ này (Putman, 2000. Dẫn theo Hoàng Bá Thịnh, 2009). Trong nghiên cứu năm 2002, Fukuyama đưa ra định nghĩa cụ thể hơn: vốn xã hội giúp thúc đẩy sự hợp tác xã hội thông qua việc chia sẻ các chuẩn mực, giá trị, điều này được thể hiện qua các mối quan hệ thực sự trong xã hội (Fukuyama, 2002, dẫn lại từ Hoàng Bá Thịnh, 2009).
5 z Coleman định nghĩa: “vốn xã hội là “các nguồn lực cấu trúc xã hội mà cá nhân có thể sử dụng như là nguồn vốn tài sản” (Coleman, 1994:302, dẫn lại từ Hoàng Bá Thịnh, 2009), ông chỉ ra một số hình thái của vốn xã hội: (1) lòng tin, sự kỳ vọng, trách nhiệm được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội từ đó hình thành vốn xã hội; (2) thông tin được hình thành và phát triển thông qua các mối quan hệ xã hội; (3) những chuẩn mực có hiệu lực, dưới hình thái là những chuẩn mực, vốn xã hội có thể khuyến khích hoặc kiềm chế các hành động của cá nhân, nhóm xã hội; (4) quyền lực hay uy tín được xem như là một hình thái của vốn xã hội, vì khi trao quyền kiểm soát cho một người đồng nghĩa với việc hình thành nên vốn xã hội cho cá nhân đó. Bên cạnh đó, ông khẳng định cấu trúc của vốn xã hội được hình thành từ 03 thành tố chính: mạng lưới xã hội; chuẩn mực; sự tán thành và thừa nhận (Coleman, 1994, dẫn lại từ Hoàng Bá Thịnh, 2009). Quá trình tạo dựng vốn xã hội của người dân vùng nông thôn Hiện nay đã có nhiều ứng dụng của vốn xã hội vào phát triển nông thôn tại Việt Nam. Sự tồn tại và phát triển của vốn xã hội được nhiều tác giả khẳng định và phân tích ở ba thành tố chính là: i) sự tin cậy, niềm tin giữa các cá nhân trong cộng đồng; ii) Các chuẩn mực và mối quan hệ có đi có lại giữa các cá nhân; iii) sự liên kết của các cá nhân trong nhóm xã hội (Đỗ Văn Quân, 2014; Nguyễn Thị Minh Phương, 2011; Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2012).
Bên cạnh đó, nhiều tác giả phân tích được vai trò của vốn xã hội trong phát triển nông thôn hiện nay. Có tác giả lại đi phân tích sâu về sự hình thành và phát triển của các tổ chức xã hội tự nguyện (Đặng Thị Việt Phương, 2011) hay có tác giả lại đi phân tích sự ảnh hưởng của vốn xã hội tới quan hệ họ hàng (Nguyễn Tuấn Anh, 2011), dồn điền đổi thửa (Nguyễn Tuấn Anh, 2012)…Như vậy có thể thấy được, vốn xã hội được sử dụng liên tục trong các hoạt động của đời sống cộng đồng và được ứng dụng vào nhiều chiều cạnh của cuộc sống. Thứ nhất, Sự tin cậy và niềm tin của các cá nhân trong cộng đồng với nhau. Trong bài viết “phát huy vai trò của vốn xã hội trong xây dựng nông thôn mới” của Đỗ Văn Quân (2014), tác giả xác định vốn xã hội như một “chất liệu mới” và quan trọng trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
Đồng thời, tác giả xác định vốn xã 6 z hội trong xây dựng nông thôn mới được phát triển từ ba thành tố chính: niềm tin; giá trị và chuẩn mực; liên kết và mạng lưới xã hội. Tác giả phân tích rõ tính tích cực và tiêu cực của sự tin cậy, niềm tin đối với các hoạt động của đời sống cộng đồng nông thôn. Trước hết, tác giả khẳng định, các cá nhân cảm thấy tin tưởng đối với những người xung quanh mình; ii) các cá nhân có sự tin tưởng cao đối với nhau để thành lập các hội nhóm/tổ chức xã hội tự nguyện như: Hội/phường; tổ tính dụng…iii) niềm tin thúc đẩy cá nhân chia sẻ, liên kết với nhau nhằm mục đích hỗ trợ nhau, tìm kiếm cơ hội, thị trường và xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra các điểm tiêu cực của niềm tin đối với các hoạt động của cá nhân trong cộng đồng là: i) niềm tin có quan hệ nghịch chiều với “tham nhũng”; ii) quan hệ “thân thuộc” là nền tảng của “lợi ích nhóm”; iii) niềm tin giúp hình thành các mối “quan hệ ngắn”.
Sự tiêu cực này ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của sự gắn kết cộng đồng. Đồng quan điểm với tác giả Đỗ Văn Quân (2014), Nguyễn Thị Minh Phương (2011) trong bài viết “vốn xã hội của nông thôn Việt Nam đương đại”, tác giả khẳng định niềm tin không xuất phát từ lòng tốt hay “từ thiện” từ những người khác mà xuất phát từ các chuẩn mực và định chế xã hội. Sự tin cậy được thể hiện ở nhiều vấn đề như: quan hệ dòng họ; sự tham gia của các cá nhân vào các tổ chức xã hội tự nguyện; sự phát triển của quan hệ làng xóm, làng giềng. Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ rõ được những điểm tiêu cực mà niềm tin có thể ảnh hưởng tới sự gắn kết của cộng đồng và phát triển bền vững của nông thôn.
Tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2012) trong bài viết “vốn xã hội trong quản lý và phát triển nông thôn nước ta hiện nay” phân tích biểu hiện của niềm tin ở sự phân định ranh giới giữa các gia đình chỉ dựa vào các khóm tre, vách đất, điều này khác hẳn so với các gia đình tại đô thị.