CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cây mắc ca 1. Giới thiệu về cây mắc ca a) Giới thiệu chung về cây mắc ca Mắc ca tên khoa học là Macadamia, thuộc chi Macadamia, họ Proteaceae là cây thực phẩm, quả khô, thân gỗ có giá trị kinh tế cao, gồm hai loài là: loài vỏ hạt trơn (Macadamia integrifolia Maiden & Betche) và loài vỏ hạt sần (Macadamia tetraphylla L. Jhonson) và giống lai giữa hai loài này.
Cũng có thể phân biệt giữa 2 loài mắc ca này dựa vào số lá trên một đốt thân: với loài vỏ láng (Macadamia integrifolia), trên mỗi đốt thân thường có 3 lá; loài vỏ nhăn (Macadamia tetraphylla) thường có 4 lá trên mỗi đốt thân [14]. Cây này là một loại có trái thương mại, có giá trị kinh tế cao, hạt chứa dầu cho thương phẩm gần giống hạt điều. Đây là cây lấy quả nổi tiếng và đang trở thành cây trồng được quốc tế hoá như cà phê, ca cao, cao su… Hiện nay, nhu cầu sử dụng hạt mắc ca trên thế giới rất lớn và giá thành của loại sản phẩm này khá đắt. Theo tính toán của các nhà khoa học, trồng mắc ca có thể đem lại lợi nhuận cao gấp 2 lần so với trồng chè, gấp 3 lần so với cây cà phê [15].
Quả mắc ca trên cây [1] 3 Cây mắc ca (Macadamia) được phát hiện từ cây hoang dại ở vùng rừng mưa nhiệt đới ven biển vùng Đông Nam bang Queensland và miền Bắc bang New South Wales trong phạm vi 250 - 310 vĩ độ Nam của Australia. Vào đầu năm 1857, nhà thực vật học nổi tiếng của Australia là B.F Von Mueller và nhà thực vật học Scotlen Walter Hill đã phát hiện loài cây này trong rừng cây bụi ở gần sông Pine của vịnh Moreton của Queensland, đặt tên là cây quả khô Australia ba lá (Macadamia temifolia F.Mueler), xếp các cây này thành một chi mới là Mắc ca để kỷ niệm người bạn của ông là John Macadam. Mắc ca là loài thân gỗ, hệ rễ cọc kém phát triển, thân thẳng chia cành nhiều, trên thân có nhiều bì khổng (khi nhân giống bằng giâm hom có khả năng phát rễ từ các bì khổng); lá cứng, mép lá lượn sóng hoặc có răng cưa cứng nhọn như gai; hoa tự bông đuôi sóc mọc ra từ cành 1,5 đến 2 tuổi, hoa lưỡng tính. Macadamia ra hoa có 3 thời kỳ phát dục: thời kỳ ngủ nghỉ của mầm, thời kỳ vươn dài hoa và thời kỳ ra hoa.
Thời kỳ ngủ nghỉ biến động khoảng 50-96 ngày, thời kỳ vươn dài, kéo dài khoảng 60 ngày. Thời điểm nở hoa sau khi phân hoá mầm hoa 136-153 ngày. Ở Trung Quốc thời điểm nở hoa vào khoảng tháng 2 đến tháng 3, một số giống chậm hơn có thể đến tháng 4 [8]. Cây Mắc ca 4 Quả macadamia phát dục chia làm 5 giai đoạn, thời gian đầu sau ra hoa 30 ngày, quả non đường kính dưới 1 cm, phía ngoài vỏ quả màu xanh, bên trong xanh nhạt; thời gian sau ra hoa 40-50 ngày, đường kính 1,5 cm; thời gian sau ra hoa 50-60 ngày, đường kính quả khoảng 2 cm, lớp bên trong vỏ quả màu nâu nhạt, nhân quả đã nhìn rõ, màu trắng sữa; thời gian sau ra hoa 60-70 ngày, đường kính 2,5 cm, vỏ quả dày, nhân hạt đã đậm đặc, màu trắng sữa; sau ra hoa 110-140 ngày, đường kính 3 cm, vỏ ngoài của quả mỏng đi, có lớp trong màu nâu vàng, quả cứng lên, đỉnh chóp có lỗ nảy mầm màu trắng, nhân quả màu trắng, cứng (dẫn theo Nguyễn Công Tạn, 2003) [8].
Quả hình trái đào, hoặc tròn như hòn bi, khi chín vỏ quả chuyển từ xanh sang nâu, vỏ khô tự nứt, bên trong chứa một hạt, hiếm khi có 2 hạt. Nếu quả chỉ chứa 1 hạt thì hạt tròn như hạt nhãn. Vỏ quả cứng và láng bóng như hạt sở, đường kính hạt khoảng 2-3 cm, trọng lượng tươi hạt khoảng 8-9 gam, tỷ lệ nhân 30-50%, tỷ lệ dầu trong nhân 71-80%. Bên trong quả Mắc ca 5 Đặc điểm sinh học Cây mắc ca là cây ưa sáng, được trồng ở các quốc gia có khí hậu ẩm, cận nhiệt đới.
Cây có khả năng chịu hạn tốt, trong điều kiện thiếu nước tưới vẫn có thể sinh trưởng và phát triển bình thường. Cây có biên độ sinh thái rộng, có thể chịu lạnh tới - 4°C đối với cây con và – 6°C đối với cây trưởng thành, có thể chịu nóng tới 38°C và chịu được sương giá 20 ngày. Nhiệt độ tốt nhất để cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất là từ 18 - 25°C. Hầu hết các giống Mắc ca đều ngừng quang hợp ở 38°C.
Lượng mưa thích hợp từ 1.500 mm và phân bố đều. Mắc ca ưa đất thịt nhẹ đến trung bình, đất ẩm đều quanh năm. Đất có tầng canh tác sâu 1m, tơi xốp, thoát nước tốt, độ pH thích hợp từ 5 - 6 (Cây không ưa đất kiềm, đất phèn mặn, đất đá vôi, đất mắc galít, đất đá ong hoá hoặc thoái hoá nghiêm trọng). Vì vậy, từ xích đạo đến vĩ tuyến 340 nếu chế độ mưa ẩm tốt, cây Mắc ca đều có thể mọc nhưng không hẳn là nơi nào cũng sinh trưởng tốt và cho sản lượng cao.
Theo báo cáo của Trung tâm đa dạng Úc, Macadamia chịu đựng khô hạn, độ dốc và gió. Theo nghiên cứu sinh thái của cây Macadamia sống ở nơi có nhiệt độ hàng năm 15-25°C, lượng mưa hàng năm 700-2600mm, pH từ 4,5-8. Macadamia phát triển tốt nhất trong khu vực rừng nhiệt đới, dọc theo bờ biển với độ ẩm cao và mưa nhiều. Macadamia mọc tốt trên nhiều loại đất, nhưng không thành công trên bãi cát ven biển bạc màu, đất sét nặng hoặc rặng núi sỏi.
Sản lượng tốt trên đất sét pha mùn, thoát nước tốt và đất sét pha mùn cát. Cây mắc ca được trồng trên khắp thế giới. Theo thống kê năm 2006, có 8 quốc gia trồng nhiều nhất là: Australia (21.500ha), Nam Phi (8.348ha), Costa Rica (800ha). Mắc ca còn lại được trồng ở một số quốc gia khác như: Srilanca, Veneduela, Mexico, Zimbabue, Peru, Indonesia, Thái Lan, v.
Nước láng giềng Trung Quốc bắt đầu nhập mắc ca vào trồng ở Đài Loan vào năm 1910. Năm 1940, nhập và trồng thử ở Quảng Đông. Sau đó, có trồng thử ở Quảng Tây, Hải Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Chiết Giang, Tô Giang. Viện nghiên cứu cây Á 6 nhiệt đới Quảng Tây đưa Mắc ca vào nghiên cứu từ năm 1974, đến năm 1987 phát triển với diện tích đạt 200 ha.
Khu tự trị Quảng Tây có 400 ha cây Mắc ca, sản lượng hàng năm trên 60 tấn. Tỉnh Vân Nam bắt đầu phát triển mạnh từ năm 1994, đến nay diện tích đã có tới 2. Tỉnh Tứ Xuyên đã trồng được 200 ha (Nguyễn Công Tạn, 2003) [8]. Như vậy, cây mắc ca có phân bố khá rộng từ Nam bán cầu đến Bắc bán cầu.
Cây có thể sinh trưởng phát triển được trên rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ từ châu Úc, châu Mỹ, châu Á và thậm chí cả châu Phi. Đặc biệt, cây Mắc ca được trồng khá nhiều ở Trung Quốc (nước láng giềng với Việt Nam). Mắc ca trồng ở Trung Quốc sinh trưởng và phát triển tốt, nhất là vùng sinh thái phía Nam Trung Quốc giáp với Việt Nam. Đặc điểm phân bố này là một trong những cơ sở quan trọng trong việc lựa chọn giống Mắc ca thích nghi ở Lai Châu.
b) Yêu cầu về sinh thái của cây Mắc ca • Đất đai Cây Mắc ca ưa đất thịt nhẹ đến trung bình, không chịu được điều kiện ngập úng, thời hạn úng ngập không quá 10 ngày, đất ẩm đều quanh năm, tầng đất sâu trên 1m, hơi chua, nếu giàu hữu cơ thì đỡ phải bón nhiều phân. Mắc ca có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất khác nhau như đất sét mùn pha cát, đất đỏ bazan, đất có nguồn gốc núi lửa, đất có lẫn đá ong và đất sét nặng; không ưa đất kiềm, đất phèn mặn, đất đá vôi, đất mắc ga lít, đất đá ong hoá hoặc thoái hoá nghiêm trọng. Độ pH tối ưu cho cây sinh trưởng và phát triển từ 5 - 5,5 (theo Nguyễn Công Tạn, 2003) [8]. Độ dày tầng đất là một yếu tố quan trọng giúp bố trí cây trồng hợp lý và đây là yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và sản lượng quả của cây Mắc ca.
Tầng đất càng dày càng thuận lợi cho sinh trưởng phát triển của cây; là điều kiện để bộ rễ phát triển sâu, rộng đảm bảo được nước, nguồn dinh dưỡng và giá đỡ cho cây sinh trưởng và phát triển tốt. Theo một số kết quả nghiên cứu về cây mắc ca thì tiêu chuẩn đất trồng loài cây này có độ dày tốt nhất là >1 m và không có những yếu tố gây trở ngại cho sự phát 7 triển của bộ rễ như đá tảng, đá ong dày đặc. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện nghiên cứu khảo nghiệm cây Mắc ca trên 9 địa điểm: Ba Vì (Hà Nội), Uông Bí, Hoành Bồ (Quảng Ninh), Mai Sơn (Sơn La), Đại Lải (Vĩnh Phúc), Krong Năng (Đăk Lắc), Đăk Plao (Đăk Nông), Đồng Hới (Quảng Bình), Nam Đàn (Nghệ An), Cầu Hai (Phú Thọ). Đặc điểm đất đai trong các khảo nghiệm cây Mắc ca trên các vùng sinh thái là đất đồi, có độ dốc từ 5-100, thực bì chủ yếu cỏ tranh, cây bụi, Sim, Mua,… thuộc nhóm đất Feralit (Sơn La, Phú Thọ,.), đất đỏ Bazan (Đăk Nông, Đăk Lắc) riêng ở Ba Vì (Hà Nội) và Đại Lải (Vĩnh Phúc) trên đất sạn sỏi kết, tầng đất mỏng.
Các số liệu phân tích đất cho thấy đất chủ yếu đất chua (pH = 3,46-4,62), thiếu lân, kali và canxi. Trong 9 địa điểm trồng tác giả đánh giá các chất dinh dưỡng như: đạm, lân, kali, canxi và magie đều thấp [4]. Tính chất hoá - lý của đất ở các khu vực khảo nghiệm Chất dễ Cation trao đổi Thành phần cơ giới Độ tiêu (1đl/100mg) Tên phẫu (%) Mùn Đạm sâu diện pH KC Ca Mg Al 0,02- cm % % P205 K20 2-0,02 0,002 ++ ++ +++ 0 Ba Vì 0-30 3,85 1,91 0,12 0,31 0,62 1,1 0,41 0,68 30,51 33,71 35,78 Uông Bí 0-30 4,11 2,12 0,8 0,37 0,79 0,1 0,58 3,86 62,02 14,37 4,61 Mai Sơn 0-30 3,91 3,15 0,12 3,32 7,2 0,81 0,67 4,26 7,15 22,1 70,84 Đại Lải 0-30 3,75 2,1 0,14 1,08 1,60 0,41 0,27 3,02 28,74 42,76 28,50 K.