Việt Nam gia nhập WTO: Thực trạng và Giải pháp thúc đẩy (Luận văn Nguyễn Văn Thủy, ĐH Mở TPHCM)

Nghiên cứu sâu về thực trạng Việt Nam gia nhập WTO, phân tích các cơ hội, thách thức và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững sau khi gia nhập.

Chuyên ngành

Kinh tế Đông Nam Á

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp đại học

2004

70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới

Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 11 tháng 1 năm 2007, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. WTO là tổ chức quốc tế đa phương duy nhất quy định các nguyên tắc thương mại toàn cầu, với 164 thành viên tính đến nay. Tổ chức này hoạt động dựa trên các nguyên tắc cốt lõi gồm: đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia, tự do hóa thương mại, minh bạch và cạnh tranh công bằng. Việt Nam bắt đầu quá trình đàm phán gia nhập WTO từ năm 1995, kéo dài hơn 11 năm với nhiều vòng đàm phán phức tạp. Quá trình này đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện cải cách toàn diện hệ thống pháp luật, chính sách thương mại và cơ chế quản lý kinh tế. Mục tiêu chính của việc gia nhập WTO là tiếp cận thị trường rộng lớn, thu hút đầu tư nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Đây được xấp xỉ là cam kết hội nhập sâu rộng nhất của Việt Nam kể từ công cuộc Đổi Mới năm 1986.

1.1. Lịch sử hình thành và vai trò của WTO trong nền kinh tế toàn cầu

WTO được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1995, kế thừa Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) ký năm 1947. Tổ chức có trụ sở tại Geneva, Thụy Sĩ, với cơ cấu bao gồm Bộ trưởng, Đại hội đồng, các ủy ban chuyên ngành và Ban Thư ký. WTO quản lý thương mại hàng hóa qua Hiệp định GATT, thương mại dịch vụ qua Hiệp định GATS và quyền sở hữu trí tuệ qua Hiệp định TRIPS. Các nguyên tắc cơ bản gồm đối xử tối huệ quốc, đối xử quốc gia, tự do hóa thương mại dần dần và minh bạch hóa. WTO đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy thương mại tự do, giải quyết tranh chấp thương mại giữa các quốc gia và tạo khuôn khổ pháp lý cho thương mại quốc tế.

1.2. Mục đích và lợi ích của Việt Nam khi gia nhập WTO

Việt Nam gia nhập WTO nhằm đạt được nhiều mục tiêu chiến lược. Thứ nhất, tiếp cận thị trường của các nước thành viên với thuế quan ưu đãi, mở rộng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Thứ hai, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhờ môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định theo chuẩn quốc tế. Thứ ba, thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế trong nước, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Thứ tư, đa phương hóa quan hệ thương mại, giảm phụ thuộc vào thị trường đơn lẻ. Ngoài ra, việc trở thành thành viên WTO giúp Việt Nam có tiếng nói trong quá trình xây dựng luật chơi thương mại toàn cầu, bảo vệ lợi ích quốc gia trong các tranh chấp thương mại quốc tế.

II. Phân tích thực trạng Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng cũng đối mặt nhiều thách thức nghiêm trọng. Về mặt tích cực, kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh, FDI đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều, GDP tăng trưởng ổn định ở mức cao. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy nhiều vấn đề tồn tại. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa còn yếu, phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa với trình độ quản lý và công nghệ lạc hậu. Ngành công nghiệp phụ trợ phát triển chậm, tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất thấp. Nông nghiệp chịu áp lực cạnh tranh lớn từ hàng nhập khẩu giá rẻ. Hệ thống pháp luật tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ với thông lệ quốc tế. Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ vẫn phổ biến, cơ chế thực thi bảo hộ thương hiệu còn yếu kém. Nhiều doanh nghiệp chưa hiểu biết đầy đủ về cam kết WTO và thiếu chiến lược hội nhập bài bản, dẫn đến thiệt thòi trong cạnh tranh quốc tế.

2.1. Cơ hội và thành tựu đạt được trong thương mại quốc tế

Việc gia nhập WTO mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam trong thương mại quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng mạnh, từ 39,8 tỷ USD năm 2006 lên hơn 365 tỷ USD năm 2022. FDI tăng đáng kể, các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, công nghệ và dịch vụ. Hiệp định TRIMS tạo thêm đảm bảo quốc tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài. Độc quyền trong một số ngành dịch vụ bị bãi bỏ, buộc doanh nghiệp cải thiện chất lượng và hạ giá thành. Cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại giúp bảo vệ lợi ích doanh nghiệp tốt hơn.

2.2. Thách thức đối với sản xuất công nghiệp và nông nghiệp

Thách thức lớn nhất nằm ở sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Ngành công nghiệp Việt Nam chủ yếu gia công, thiếu công nghiệp phụ trợ, tỷ lệ nội địa hóa thấp. Nhiều doanh nghiệp công nghiệp không đủ sức cạnh tranh khi thuế quan giảm theo cam kết WTO. Đối với nông nghiệp, thách thức còn nghiêm trọng hơn. Nông dân Việt Nam canh tác nhỏ lẻ, năng suất thấp, chi phí cao. Hàng nông sản nhập khẩu từ các nước có công nghệ tiên tiến đe dọa sản xuất trong nước. Chất lượng sản phẩm nông nghiệp chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc. Giá trị gia tăng trong chuỗi nông sản còn thấp.

III. Các giải pháp thúc đẩy hội nhập WTO hiệu quả

Để tận dụng tối đa cơ hội từ WTO và vượt qua thách thức, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ phía Nhà nước và doanh nghiệp. Phía Nhà nước, cải cách thể chế là nhiệm vụ trọng tâm, bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật theo thông lệ quốc tế, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý ngành tài chính. Chính sách thuế cần điều chỉnh phù hợp cam kết WTO, giảm thuế quan theo lộ trình nhưng kết hợp hỗ trợ doanh nghiệp trong nước chuyển đổi. Phát triển thị trường vốn và dịch vụ tài chính tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Phía doanh nghiệp, cổ phần hóa là giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị. Việc bảo vệ và phát triển nhãn hiệu hàng hóa cần được chú trọng, xây dựng chiến lược thương hiệu bài bản. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, am hiểu luật thương mại quốc tế là yếu tố then chốt. Hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ quan nghiên cứu giúp nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững.

3.1. Giải pháp cải cách thể chế và chính sách từ phía Nhà nước

Nhà nước cần triển khai giải pháp cải cách tổng thể trên nhiều lĩnh vực. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo thông lệ quốc tế, đảm bảo tính minh bạch, dự đoán được. Thứ hai, cải cách chính sách thuế phù hợp cam kết WTO, điều chỉnh thuế nhập khẩu theo lộ trình. Thứ ba, phát triển thị trường vốn và dịch vụ tài chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn. Thứ tư, tăng cường năng lực và hiệu lực quản lý ngành tài chính. Thứ năm, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu rào cản gia nhập thị trường. Chính sách ngân sách cần ưu tiên đầu tư hạ tầng, giáo dục và khoa học công nghệ.

3.2. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua nhiều giải pháp. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là bước đi quan trọng, giúp minh bạch hóa quản trị và nâng cao hiệu quả hoạt động. Bảo vệ và phát triển nhãn hiệu hàng hóa là yếu tố sống còn trong cạnh tranh quốc tế. Doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng thương hiệu mạnh, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ tại thị trường trong nước và quốc tế. Đào tạo nguồn nhân lực am hiểu luật thương mại quốc tế, kỹ năng đàm phán và quản trị hiện đại. Hợp tác liên kết trong chuỗi giá trị để tăng quy mô và sức cạnh tranh.

IV. Kết luận và triển vọng hội nhập WTO của Việt Nam

Việt Nam gia nhập WTO là quyết định chiến lược đúng đắn, mang lại nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Qua quá trình hội nhập, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể về thương mại, đầu tư và cải cách thể chế. Tuy nhiên, để khai thác tối đa lợi ích từ WTO, cần tiếp tục nỗ lực cải cách đồng bộ cả về thể chế lẫn năng lực doanh nghiệp. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch và công bằng. Doanh nghiệp phải tự đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nguồn nhân lực chất lượng cao, am hiểu quy tắc thương mại quốc tế là yếu tố quyết định thành công. Triển vọng hội nhập của Việt Nam khả quan khi đất nước đã ký nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP. Những hiệp định này mở ra không gian hợp tác rộng lớn hơn, đòi hỏi Việt Nam phải không ngừng nâng cao nội lực để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường toàn cầu.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Quá trình hội nhập WTO của Việt Nam rút ra nhiều bài học quý giá. Bài học đầu tiên là cải cách thể chế phải đi trước, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho hội nhập. Bài học thứ hai là doanh nghiệp phải là chủ thể chính trong quá trình hội nhập, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ và kiến tạo. Bài học thứ ba là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt, quyết định khả năng cạnh tranh quốc gia. Bài học thứ tư là cần có chiến lược hội nhập tổng thể, cân bằng giữa mở cửa thị trường và bảo vệ lợi ích nội địa. Cuối cùng, hợp tác quốc tế và đa dạng hóa quan hệ thương mại giúp giảm rủi ro và tăng sức đàm phán.

4.2. Triển vọng và định hướng phát triển trong bối cảnh mới

Triển vọng hội nhập của Việt Nam rất khả quan trong bối cảnh mới. Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP mở ra cơ hội tiếp cận thị trường rộng lớn với thuế quan ưu đãi. Việt Nam cần tận dụng lợi thế nhân khẩu học, chi phí lao động cạnh tranh và vị trí địa lý chiến lược. Định hướng phát triển bao gồm chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa. Đầu tư vào khoa học công nghệ, chuyển đổi số và phát triển bền vững là ưu tiên hàng đầu. Nâng cao năng lực thể chế và chất lượng nguồn nhân lực sẽ tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

29/05/2026
Việt nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới thực trạng và giải pháp thúc đẩy khóa luận tốt nghiệp đại học

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH WTO VÀ MỤC ĐÍCH CỦA NÓ 1.1 LỊCH SỬ HỈNH THÀNH Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tô chức tiên thân của nó là Hiệp định chung về Thuế quan Thương mại (GATT) GATT ra đời sau Đại chiến thể giới lần thứ 2 trong trào lưu hình thành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế mà điển hình là Ngân hàng Quốc tể Tái thiết và Phát triển, thường được biết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và quỹ tiền tệ Quốc té (IMF). Ngày nay, với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mại quốc tế điều tiết các lĩnh vực vê công ăn việc làm, vê thương mại hàng hóa, khăc phục tình trạng hạn chê, ràng buộc các hoạt động này phát triên, 23 nước sáng lập GATT đã cùng một sô nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dự thảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với các tư cách là chuyên môn của liên Hiệp Quốc. Đồng thời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lý các biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từ đàu những năm 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa mậu dịch, mở đường cho kinh tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân các nước thành viên. Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã được thỏa thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ 11/1947 đến 23/4/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nên việc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được.

Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phám, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng mậu dịch thế giới, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948. Từ đó tới nay, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chù yếu về thuế quan. Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ hiệp định Uruguay (1986-1994) do thương mại quốc tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuân mực, luật chơi điêu tiêt các hàng rào phi quan thuê, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp. Với diện điều tiết của hệ thống thương mại đa biên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế 3 quan và Thương mại (GATT) với tư cách là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính chất tùy ý đã tỏ ra không thích hợp.

Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Marốc), kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thê giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp GATT. Theo đó, WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Họp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995.2 C ơ CẤU TỎ CHỨC Tổ chức Thương mại Quốc tế là tổ chức quốc tế duy nhất quản lý luật lệ giữa các quốc gia trong thương mại quốc tế. Đó là các hiệp định đã ( và đang tiêp tục) được đàm phán và ký kết giữa các quốc gia hoặc lãnh thô quan thuê thành viên. Cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị Bộ trưởng-nhóm họp ít nhât hai năm một lần.

Hội nghị Bộ trưởng đầu tiên được tổ chức tại Singapore tháng 12/1996. Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai được tổ chức tại Geneva tháng 5/1998; và Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 3 sẽ được tổ chức tại Seattle (Mỹ) vào cuối năm 1999. Giữa hai kỳ hội nghị, Đại hội đồng (Bao gồm đại diện có thẩm quyền của tất cả các thành viên) có chức năng thường trực và báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng. Đại hội đồng đồng thời đóng vai trò là một “cơ quan giải quyết tranh chấp” và “cơ quan rà soát chính sách” của WTO.

Dưới Đại hội đồng là Hội đồng về thương mại hàng hoá, Hội đồng về thương mại dịch vụ, và Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyên sở hữu trí tuệ. Các Hội đông trên chịu trách nhiệm điêu hành việc thực thi hiệp định WTO về lĩnh vực thương mại tương ứng. Tham gia các Hội đồng là các đại diện của các thành viên. Hội đồng hàng hóa điều hành công việc của 11 Uỷ ban và cơ quan giám sát hàng dệt (Sơ dồ) Hội đồng dịch vụ gồm các Uỷ ban về dịch vụ tài chính và Uỷ ban về các cam kết cụ thể.

Ngoài ra còn có các nhóm công tác chuyên trách một số lĩnh vực. Phần lớn các quyết định của WTO đều được thông qua trên cơ sở đồng thuận. Trong một số trường hợp nhất định, khi không đạt được sự đồng thuận, các thành viên có thể tiến hành bỏ phiếu. Khác với các tổ chức khác, mỗi thành viên WTO chỉ có quyền bỏ một phiếu và các phiếu bầu của các thành viên có giá trị ngang nhau.

Hầu hết các thành viên hiện tại của WTO đều là thành viên trước đây của GATT. Các quốc gia và lãnh thổ tự chủ về chính sách thương mại cũng có thể gia nhập WTO với điều kiện thông thường là được tất cả các thành viên chấp thuận. Khi không thể đạt được đồng thuận, việc kết nạp có thể chỉ cần 2/3 số phiếu bàu. Quá trình gia nhập được dựa trên cơ sở xem xét các chính sách kinh tế, thương mại của các nước đang xin gia nhập và các cuộc đàm phán song phương về mở cửa thị trường.

Việc gia nhập của một nước được chính thức hóa bàng việc ký vào Nghị định thư gia nhập, và có hiệu lực 30 ngày sau khi nộp văn bản thông báo việc cơ quan có thẩm quyền đã thông qua hay phê chuẩn Nghị định thư gia nhập.3 MỤC ĐÍCH CỦA WTO 1.1 NHỮNG NGUYÊN TẮC c ơ BẢN - Nguyên tắc thứ nhất: Không phân biệt đổi xử. Mỗi thành viên sẽ dành cho sản phẩm của một thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hom đối xử mà thành viên đó dành cho sản phẩm của một nước thứ ba (Đãi Ngộ Tối Huệ Quốc-MFN) Mỗi thành viên sẽ không dành cho sản phẩm của công dân nước mình đối xử ưu đãi hơn so với sản phẩm của người nước ngoài (Đãi Ngộ Quốc Gia-NT) - Nguyên tắc thứ hai: Thương mại phải ngày càng được tự do hơn thông qua đàm phán. Các hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cẩu. Mức độ cắt giảm các hàng rào bảo hộ được thỏa thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương và đa phương.

- Nguyên tẳc thứ ba: D ễ dự đoán. Các nhà đầu tư cũng như chính phủ nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thương mại (thuê quan và phi thuê quan khác) sẽ không bị tăng một cách tùy tiện. Cam kêt về thuế quan và các biện pháp khác bị “ràng buộc” về mặt pháp lý. - Nguyên tắc thứ tư: Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng.

Hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp hay dành các đặc quyền cho một số doanh nghiệp nhất định. - Nguyên tẳc thứ năm: Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi. Các ưu đãi này được thể hiện thông qua việc cho phép các thành viên đang phát triển một số quyền và không phải thực hiện một số quyền và không phải thực hiện một số nghĩa vụ hay thời gian quá độ dài hơn để điều chỉnh chính sách.2 THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ - Thuế quan: WTO thừa nhận thuế quan (Thuế nhập khẩu) là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước. Các hàng rào bảo hộ phi thuế phải được bãi bỏ.

Có như vậy là do thuế quan là biện pháp bảo hộ ít bóp méo thương mại nhất và cũng là biện pháp mang tính minh bạch hơn cả. 5 Thuế quan chia làm nhiều loại khác nhau. Thuế phần trăm là một số phần trăm nhất định trên giá trị hàng hóa nhập khẩu (ví dụ 5%). Thuế cụ thể quy định một khoản tiền cố định phải nộp trên một đơn vị hàng hoá (Ví dụ: 1.

Ngoài ra, còn có thuế thay thế có thể áp dụng hoặc thuế phần trăm hoặc thuế cụ thể tuỳ theo loại thuế nào cao hơn (Ví dụ: 5% hoặc 1000 đồng/kg, tuỳ loại nào cao hơn). Trong khi đó, thuế kết hợp buộc người nhập khẩu phải trả cả hai loại thuế phần trăm và cụ thể (Ví dụ: 5% và 1000 đồng/kg). Tuy nhiên, thuế phần trăm là loại thuế mang tính rõ ràng hơn cả nên được WTO khuyến khích dùng hơn các loại thuế khác. Trong các trường họp áp dụng các loại thuế khác, cần phải đưa ra mức thuế phàn trăm tương đương nhằm xác định được mức bảo hộ tương ứng.

Thuế quan phải được áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả các thành viên WTO. - Một số phương thức kỹ thuật áp dụng cho các biện pháp thuế quan của WTO: + Thuế hoá: Do tính dễ dàng và dễ đàm phán cắt giảm của thuế quan, các thành viên WTO thoả thuận một cách thức mới cho việc tiếp cận thị trường nông sản là “chỉ sử dụng thuế quan”. Các biện pháp hạn chế số lượng tồn tại trước Vòng Uruguay nay phải tiến hành “thuế hoá” tức là chuyển biện pháp phi thuế thành một mức thuế quan bổ sung có tác dụng tương đương. Trong nông nghiệp người ta còn sử dụng hạn ngạch thuế quan.

Hạn ngạch thuế quan là cơ chế cho phép duy trì mức thuế suất thấp áp dụng với hàng nhập trong phạm vi hạn ngạch và mức thuế suất cao hơn đối với hàng hoá nhập khẩu vượt hạn ngạch. Mức thuế đạt được sau khi thuế hoá sẽ tiếp tục được ràng buộc và cắt giảm thông qua đàm phán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ