Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và nguồn tư liệu liên quan đến đề tài luận án. Những điều kiện cho sự ra đời và hoạt động của các công ty vận tải đường thủy ở Bắc Kỳ. Hoạt động của các công ty vận tải đường thủy ở Bắc Kỳ từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1914.
Hoạt động của các công ty vận tải đường thủy ở Bắc Kỳ từ năm 1914 đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX. Nhận xét về các công ty vận tải đường thủy ở Bắc Kỳ. luan an 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƢ LIỆU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu về giao thông vận tải ở Đông Dƣơng và Việt Nam Vấn đề lịch sử giao thông vận tải ở Đông Dương và Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt là từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX được các nhà sử học quan tâm nghiên cứu và đã công bố nhiều kết quả có giá trị.
Bên cạnh nghiên cứu về giao thông vận tải, nhiều công trình đã làm đề cập đến dịch vụ vận tải và phân tích những ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế - xã hội ở Đông Dương và Việt Nam. Cuốn sách “Các công trình giao thông công chính Đông Dương” của A. Pouyanne - Tổng thanh tra Công chính Đông Dương (Nguyễn Trọng Giai dịch) đã nghiên cứu các công trình giao thông, thuỷ lợi trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược từ đầu thế kỷ XX đến năm 1926 (trong vòng 25 năm). Các công trình giao thông được phân chia theo từng loại hình: đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và các công trình thuỷ lợi trên toàn Đông Dương.
Tác giả với vai trò là người trực tiếp nghiên cứu và đề xuất xây dựng các công trình giao thông công chính trong thời gian trên đã phác họa tương đối đầy đủ các nhóm công trình giao thông theo mức độ lợi ích: nhóm trực tiếp, gián tiếp và phục vụ công. Tác giả đã có sự đối chiếu với các vùng Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Cao Miên và Lào để rút ra một số nhận xét về quy mô vận chuyển, đặc điểm kết cấu hạ tầng giữa các vùng với nhau, đề xuất một số biện pháp đầu tư và khai thác nhằm mang lại hiệu quả cho chính quyền. Nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả luận án những số liệu chân thực về lượng hàng hóa, hành khách và giá cước vận chuyển của một số công ty vận tải đường thủy. Cuốn sách “Commerce et colonisation en Indochine 1860 - 1945 (Hoạt động thương mại và khai thác thuộc địa ở Đông Dương 1860-1945) của Kham Vorapheth đã coi những hoạt động thương mại của Pháp là cái cớ để can thiệp và biện minh cho việc duy trì quyền lực ở Đông Dương, qua đó sử dụng vị thế của Đông Dương để tăng cường thực lực, đảm bảo vị thế của Pháp tại khu vực châu Á.
Tư sản Pháp đã tăng cường đầu tư vào thuộc địa nhưng chỉ có 1 số công ty thành công như anh em Denis, Paul Rauzy, Eugéne Ville, Francois Delignon, Fontaine. Nghiên cứu các doanh nghiệp và thương mại thuộc địa, tác giả đã phân tích các hoạt động đầu tư, kinh doanh của người Pháp thông qua sách, báo, báo cáo hàng năm của chính quyền, quảng cáo của những doanh nghiệp và phỏng vấn các nhà giao dịch và thương nhân người Pháp từ những năm 1930 và một số nhân chứng lịch sử trong luan an 7 giai đoạn này. Cuốn sách nghiên cứu một tập hợp của những yếu tố ngữ cảnh mà qua đó các hoạt động thương mại diễn ra, phác họa lại thị trường thương mại Đông Dương thông qua vai trò của những thương nhân nói chung, trong đó có thương nhân kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải trong nền thương mại Đông Dương, từ đó chỉ rõ cơ chế phụ thuộc lẫn nhau giữa nhà nước, nguồn vốn, tài sản và doanh nghiệp bằng những ví dụ về thành công của Denis - Freres và thống kê sự phát triển của ngoại thương của khu vực này. Cuốn sách “Lịch sử Việt Nam 1919 - 1929” của Hồ Song đề cập đến giai đoạn thực dân Pháp thực hiện chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai.
Các hoạt động bóc lột một cách toàn diện và quy mô của chủ nghĩa thực dân đã khiến những mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ở Việt Nam trở nên sâu sắc hơn. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam có sự biến đổi với sự tăng cường đầu tư của tư bản Pháp vào tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế Đông Dương, nhất là từ năm 1924 khi đồng franc có chiều hướng sụt giá và tình hình Pháp trở nên ổn định. Những món lợi kếch xù từ kinh doanh nông nghiệp đã khuyến khích tư bản Pháp đầu tư mạnh mẽ sang ngành khai thác mỏ. Việt Nam bị cuốn vào thị trường tư bản chủ nghĩa, hoạt động thương mại có sự phát triển và ra đời một số công ty lớn ở cả Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.
Để đảm bảo cho việc khai thác tài nguyên và chuyên chở hàng hóa, ngành giao thông vận tải có sự phát triển so với giai đoạn trước chiến tranh, đặc biệt là đường bộ. Cơ sở hạ tầng ở các Hải cảng lớn: Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn đều được chú trọng đầu tư: kho tàng, bến bãi, dụng cụ bốc xếp… Một số công ty đường biển của Pháp ra đời. Tư bản Pháp nắm giữ các lĩnh vực huyết mạch của nền kinh tế Đông Dương và hướng nền kinh tế thuộc địa trở thành nguồn nuôi dưỡng cho không chỉ nền kinh tế chính quốc mà còn cả các hệ thống thuộc địa mà nước Pháp nắm giữ. Sự biến đổi kinh tế dẫn tới các biến đổi trong tình hình xã hội Việt Nam: sự phát triển của giai cấp vô sản, sự ra đời của giai cấp tư sản nhưng đó là một giai cấp nhỏ bé, yếu ớt.
Cuốn sách đã cung cấp cho luận án thông tin về các hoạt động đầu tư của tư bản Pháp và tư sản Việt Nam trong lĩnh vực vận tải đường thủy. Cuốn sách “Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX” (Người dịch: Nguyễn Nghị) của Lê Thành Khôi đã trình bày lịch sử dưới góc độ toàn diện, bao gồm các thiết chế chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật trên cơ sở vận dụng và khai thác tư liệu đa ngành: dân tộc học, khảo cổ học, tiền tệ học, dân số học. Tác giả đã dẫn luận bằng góc nhìn của các điều kiện đất nước và con người. Yếu tố dân tộc với sự đan xen văn hóa giữa các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam, trong đó có người Hoa - một trong những nhóm công ty vận tải luận án sẽ nghiên luan an 8 cứu.
Từ những bình minh của lịch sử đến sự hình thành dân tộc tính, nhà nước và nên kinh tế Việt Nam, tác giả phân tích quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và quá trình thiết lập nền bảo hộ tại Bắc Kỳ, coi Bắc Kỳ là một căn cứ để xâm nhập vào nền kinh tế Trung Quốc. Sự xâm nhập về kinh tế của Pháp vào Đông Dương được chia thành ba giai đoạn: 1862 - 1918, 1918 - 1930, 1930 - 1945. Tác giả nhận định rằng hậu quả của chiến tranh thế giới thứ nhất đã cắt Đông Dương ra khỏi nền kinh tế Pháp, tạo thuận lợi bước đầu cho một nền kinh tế tự túc với sự tham gia tích cực hơn của yếu tố bản địa. Những biến đổi kinh tế tạo ra sự phân tầng ngày càng rõ nét hơn trong xã hội Việt Nam.
Công trình đã phác họa bức tranh tương đối toàn diện về lịch sử Việt Nam dưới nhiều góc độ để luận án đi sâu nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Khắc Đạm viết cuốn sách “Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở Việt Nam” nói đến những chính sách của chủ nghĩa thực dân được thực hiện ở Việt Nam trong giai đoạn 1888 - 1918. Kinh doanh vận tải đường thủy của tư bản tư nhân Pháp nằm trong những thủ đoạn thúc đẩy các hoạt động khai thác thuộc địa. Tổng số vốn chính quyền thực dân đã đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải chỉ đứng thứ hai sau công nghiệp (khai khoáng).
Nghiên cứu có điểm qua một số công ty người Pháp như Messageries maritimes (1862) và công ty vận tải đường sông Messageries fluviales (1882). Một số hoạt động của những công ty trên ở Nam Kỳ và Trung Kỳ được tác giả đề cập. Nghiên cứu nhận định các công ty đường sông Đông Dương của Pháp khó có thể cạnh tranh với các tàu buôn của Anh, Đức, Hà Lan và chỉ ra một số biện pháp bảo đảm sức cạnh tranh cho các công ty người Pháp ở Đông Dương bằng công cụ thuế. Cuốn “Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Pháp thuộc” của Nguyễn Công Bình đã đánh giá lực lượng tư sản Việt Nam trong thời kỳ thuộc Pháp.
Địa vị kinh tế thấp kém, nhỏ bé của tư sản Việt Nam luôn bị đế quốc kìm hãm và chèn ép nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế với đế quốc Pháp. Các doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn này đã có bước tiến táo bạo là chung vốn với tư bản ngoại quốc. Ở Nam Kỳ có doanh nhân Nguyễn Thanh Liêm đã đầu tư vốn vào công ty đóng và chữa tàu thủy Đông Dương của tư bản Pháp. Một số thương nhân có chung quyền lợi với tư bản Pháp, mong được học hỏi, dìu dắt trên thương trường thế giới.
Nhưng trong trường hợp quyền lợi của họ không còn gắn chặt với quyền lợi của tư bản Pháp, có khi còn mâu thuẫn với tư bản Pháp thì không thể chung vốn hay nhận thầu khoán lại của tư bản Pháp nữa mà họ sẽ tự thuê nhân công, lập ra các xí nghiệp của riêng mình nhằm kiếm lời nhiều hơn, dần trở thành đối thủ cạnh tranh với Pháp. Ở Bắc Kỳ, Bạch Thái Bưởi từ một nhà thầu khoán đã luan an 9 trở thành ông chủ của hãng vận tải đường thủy, thành lập công ty và thôn tính các công ty của người Hoa, người Pháp. Tác giả Châu Hải viết trong cuốn sách “Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam” đã chỉ ra một thực tế là tư sản người Hoa bị các công ty độc quyền Pháp chèn ép. Nhất là sau vụ đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn năm 1923 thì tư sản người Hoa đã tìm cách hợp tác với tư sản người Việt để chống lại sự độc quyền vận chuyển của các công ty xuất nhập khẩu người Pháp.