CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Trong thời gian qua, việc đầu tư phát triển lĩnh vực vận tải biển nói chung và đội tàu trong vận tải biển nói riêng là một vấn đề càng ngày nhận được càng nhiều sự quan tâm của nhà nước cũng như các nhà nghiên cứu khoa học. Tác giả xin đưa ra một số công trình nghiên cứu về đầu tư phát triển đội tàu trong vận tải biển của các tác giả trong nước, cụ thể như sau: 1. Các nghiên cứu về đầu tư, phát triển Thứ nhất, những nghiên cứu trên phương diện lý thuyết về đầu tư, đầu tư phát triển.
Bàn về khái niệm đầu tư phát triển, theo cuốn “Lập dự án đầu tư” của do Nguyễn Bạch Nguyệt (Đại học Kinh tế quốc dân) chủ biên năm 2005 đã đưa ra khái niệm “Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai” (tr5) và “Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp. Hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội” (tr6). Như vậy, theo tác giả, đầu tư phát triển là một hình thức đầu tư trực tiếp và nó là tiền đề, cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác. Với cách tiếp cận trên quan điểm triết học, tác giả Ngô Doãn Vịnh với cuốn “Đầu tư phát triển” (NXB Chính trị quốc gia, 2011) đã luận giải về phát triển, những nhân tốt hình thành, biểu hiện của phát triển.
Nghiên cứu về phát triển là tiền để để tác giả đưa ra những nhận định, phân tích về đầu tư phát triển. Theo tác giả, khi nghiên cứu về phát triển thì phải nghiên cứu 3 yếu tố chính là nguồn lực, động lực và chủ thể phát triển. Trong nguồn lực phát triển thì thành phần rất quan trọng đó chính là vốn đầu tư và nguồn lực đầu tư. Đầu tư phát triển chịu sự chi phối bởi các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội.
“Trong kinh tế học, đầu tư phát triển là một hiện tượng kinh tế, nó tồn tại vì con người và do con người… Đầu tư phát triển là hoạt động kinh tế mang tính liên ngành, liên vùng, mang tính thoả thuận, thoả hiệp rất rõ.” Và để làm rõ về đầu tư phát triển, tác giả đã đi sâu phân tích các nhân tố như: vốn đầu tư, việc đầu tư, hình 9 luan an thái đầu tư, nhà đầu tư, đối tượng đầu tư, môi trường đầu tư. Khi bàn đến vấn đề đầu tư phát triển thì điều rất quan trọng đó chính là phải đánh giá được xem kết quả và hiệu quả của việc đầu tư đã đạt được đến đâu. Để làm được điều đó, cần phải có những bộ chỉ tiêu cụ thể để đánh giá. Phân tích về đầu tư phát triển, Ngô Doãn Vịnh (2011) đã đứng trên quan điểm khác nhau (quan điểm tổng hợp, quan điểm đánh giá, quan điểm hiệu quả) và với các phương pháp khác nhau (phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp phân tích các chỉ số, phương pháp chứng minh bác bỏ, phương pháp sử dụng chuyên gia…) để đưa ra những lĩnh vực và trên thế giới.
Theo tác giả, khi xem xét hiệu quả đầu tư thì cần chú trọng các mặt: hiệu quả kinh tế (đối với cả nền kinh tế thì đó là giá trị gia tăng trên một đơn vị vốn đầu tư hoặc số vốn đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị giá trị gia tăng; đối với doanh nghiệp hay hộ gia đình thì là lợi nhuận/vốn đầu tư và thời gian thu hồi vốn); hiệu quả xã hội (thông qua các chỉ tiêu tiêu biểu như số vốn đầu tư trên một chỗ việc làm, số người được tạo công ăn việc làm, số người thoát nghèo do đầu tư, văn minh cộng đồng tăng lên do đầu tư); hiệu quả môi trường (mức độ cải thiện môi trường, mức giảm tác hại đối với môi trường sống do đầu tư mới …). Bên cạnh đó, cuốn sách “Quản trị dự án đầu tư trong vận tải biển” – NXB Giao thông vận tải của PGS.TS Phạm Văn Cương năm 2013 đã trình bày một cách rất chi tiết và cụ thể về các vấn đề cũng như quy trình của dự án đầu tư trong lĩnh vực vận tải biển. Cụ thể, tác giả đã trình bày về vấn đề vốn đầu tư và hoạt động đầu tư trong ngành vận tải biển. Tác giả đã nếu tổng quan về vấn đề dự án đầu tư, sau đó đi cụ thể chi tiết vào từng nội dung như trình tự lập dự án đầu tư, phân tích tình hình tài chính, phân tích các chỉ tiêu kinh tế xã hội, thẩm định dự án đầu tư, tổ chức quản lý dự án đầu tư và đấu thầu dự án đầu tư.
Tác giả đã đưa ra các chỉ tiêu xác định ảnh hưởng của dự án đầu tư đối với nền kinh tế (chỉ tiêu giá trị gia tăng, vấn đề tạo công ăn việc làm của dự án, tác động điều tiết thu nhập, hiệu quả tiết kiệm ngoại tệ và khả năng cạnh tranh quốc tế) và ảnh hưởng của dự án đối với môi trường sinh thái (ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực). Thứ hai, nhóm các nghiên cứu về thực tiễn đầu tư phát triển. Nghiên cứu về đầu tư phát triển cụ thể đối với hệ thống cảng biển Việt Nam, 10 luan an luận án “Đầu tư phát triển cảng biển Việt Nam giai đoạn 2005 – 2020” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (Đại học Kinh tế quốc dân) năm 2013 đã đi sâu phân tích rất chi tiết về tình hình đầu tư cảng biển ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2011. Theo tác giả, “Đầu tư phát triển cảng biển là hoạt động sử dụng vốn cùng các nguồn lực khác để xây dựng cảng biển, tạo ra tài sản là những công trình và thiết bị cần thiết cho sự hoạt động của cảng biển, nhằm đáp ứng yêu cầu vận tải qua cảng” (tr20).
Vốn sử dụng để đầu tư phát triển cảng biển có thể là nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn vốn doanh nghiệp cảng và nguồn vốn tư nhân. Tác giả đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá khá đầy đủ và chi tiết, đặc biệt là các chỉ tiêu trên góc độ vĩ mô như: suất đầu tư, tỷ lệ vốn đầu tư đã thực hiện trở thành tài sản, hệ số khai thác cảng, tăng khối lượng hàng hóa vận chuyển và thúc đẩy xuất khẩu, giảm chi phí vận chuyển và thời gian vận chuyển nhờ đó tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế, tạo việc làm và tăng năng suất lao động, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, hiệu suất sử dụng vốn đầu tư của ngành cảng biển và các doanh nghiệp cảng. Có thể thấy, tác giả đã gắn đầu tư phát triển vào đối tượng cụ thể là cảng biển và đưa ra bộ chị tiêu đánh giá dựa trên những đặc tính riêng của hệ thống cảng biển. Đề tài cấp Bộ “Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cảng biển” do Vụ kết cấu hạ tầng – Bộ Kế hoạch Đầu tư thực hiện năm 2009.
Đề tài đã thực hiện nghiên cứu vấn đề huy động vốn đầu tư cho phát triển cảng biển, các dự án đầu tư cảng biển triển khai trước năm 2009 và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam, tăng cường huy động vốn đầu tư phát triển cảng biển và nâng cao năng lực quản lý cảng biển. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ phân tích về thực trạng đầu tư cảng biển một cách khái quát, chưa chi tiết và rõ ràng, chưa đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển cảng biển. Các giải pháp mà tác giả đưa ra mới chỉ chú trọng nhiều đến giải pháp huy động vốn đầu tư mà chưa đi sâu vào các giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn đó. Báo cáo “Thúc đẩy Thương mại thông qua Giao thông Vận tải có sức cạnh tranh và ít khí thải: Tuyến đường thuỷ nội địa và đường biển ở Việt Nam” thực hiện bởi Luis C.Baher El-Hifnawi trong chương trình “Định hướng phát 11 luan an triển các nước và khu vực” của World Bank đã chỉ ra rằng, trong hơn 15 năm phát triển, điều kiện kinh tế và tính bền vững môi trường của phương thức giao thông vận tải biển đang bị suy yếu do chưa có đầu tư đầy đủ để mở rộng, cải tiến, duy trì mạng lưới giao thông và các vị trí then chốt như cảng biển mặc dù nền kinh tế của Việt Nam đã có những phát triển nhanh chóng.
Điều này đã làm giảm hiệu quả của vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ, ít khuyến khích các hãng vận tải đầu tư mua sắm tàu thuyền lớn hơn. Báo cáo đã dựa trên cả kết quả định tính và định lượng để xác định những vướng mắc về thể chế, quy định quản lý và cơ sở hạ tầng làm giảm tính hiệu quả của giao thông vận tải biển; phân tích nguyên nhân gốc rễ của những vướng mắc đó và đánh giá đề xuất các biện pháp can thiệp dựa trên chính sách và cơ sở hạ tầng để giải quyết. Báo cáo cũng nhận thấy để cải thiện hiệu quả và tăng sức hút của giao thông vận tải biển cần phải có cách tiếp cận đa chiều dựa trên các biện pháp can thiệp có chủ đích nhằm (1) nâng cấp và duy trì bền vững các hành lang và các điểm nút quan trọng trong mạng lưới đường thuỷ chính, (2) tạo thuận lợi cho việc phát triển giao thông vận tải đa phương tiện và các dịch vụ hậu cần (ví dụ, bốc xếp và lưu kho), (3) mang lại nhận thức sâu rộng hơn cho các công ty tàu biển – đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ - về việc cân nhắc lựa chọn phương thức vận tải và (4) đưa ra các cơ chế thúc đẩy hiện đại hoá ngành hàng hải. Luận án tiến sỹ “Phát triển cảng Container đầu mối khu vực phía Nam” của tác giả Nguyễn Văn Khoảng (Đại học Hàng hải) năm 2011 đã tập trung nghiên cứu về cảng container tại khu vực phía Nam.
Trong luận án của mình, đầu tiên tác giả đã đưa ra một số những lý thuyết cơ bản về phát triển cảng container đầu mối. Tác giả tiến hành đánh giá hệ thống cảng container khu vực phía Nam theo tiêu chí phát triển cảng container đầu mối. Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá cơ chế chính sách phát triển cảng container trong thời gian qua ra sao.