phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1. Khái niệm “văn hóa rừng” 1. Giới thiệu về vùng Tây Bắc Lào 1. Giới thiệu về vùng Tây Bắc Việt Nam Chƣơng 2: Văn hóa rừng nhìn từ Tây Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam 10 2.
Văn hóa rừng của người Lào ở Tây Bắc Lào 2. Văn hóa rừng của người Việt ở Tây Bắc Việt Nam Chƣơng 3: Biến đổi về văn hóa và một vài so sánh bƣớc đầu 3. Những biến đổi của văn hóa rừng trong thời gian hiện nay 3. Những nét tương đồng 3.
Những nét khác biệt 3. Các nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng và khác biệt. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm văn hóa rừng 1.
Một số khái niệm về văn hóa Các nhà nghiên cứu đã đưa ra hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa (culture). Người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa là Taylor – một nhà nhân loại học người Anh. Ông viết: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng của tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của xã hội”[14, tr. Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, C.Mác coi văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao động sáng tạo của con người – hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực của con người.
Mác đã đồng nhất văn hóa với phương thức hoạt động sống riêng có của con người. Đó là phương thức mà con người sử dụng lao động sáng tạo của mình để biến đổi và cải tạo giới tự nhiên, “vận dụng bản chất cố hữu của mình” để cải tạo hiện thực khách quan, “nhào nặn”, “xây dựng” thực tại khách quan cho chính mình “theo các quy luật của cái đẹp” [2, tr. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản 12 sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [13, tr 408]. Năm 1986, Tổ chức văn hóa thế giới (UNESCO), đã cho rằng: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người những suy xét về bản thân.
Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thiện được đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”[36, tr. Hiện nay, đa số học giả cho rằng, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử [36, tr. Một số khái niệm về rừng Năm 1930, Morozov đã định nghĩa khái niệm về rừng như sau: Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ với nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định và trong khí quyển, rừng chiếm phần lớn về mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.
Tcachenco đã phát biểu rằng: Rừng là một bộ phận cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau với hoàn cảnh bên ngoài. Mê Lê Khôp quan niệm rằng: Rừng là sự 13 hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của sinh quyển địa cầu [24, tr. Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào năm 2007, đã định nghĩa rừng: “Rừng là tài nguyên thiên nhiên quý giá, có hệ thống sinh thái riêng gồm có các loài sinh vật, nguồn nước và đất rừng trong đó có các loài cây cối tự mọc lên theo tự nhiên hoặc có người trồng trong khu vực rừng phòng hộ, rừng cấm và rừng sản xuất [43].
Theo Luật Lâm Nghiệp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2017, “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên [30]. Như vậy, các định nghĩa trên chủ yếu hiểu rừng như là một hệ sinh thái tự nhiên, nhưng đối với các tộc người có cuộc sống gần gũi với rừng, môi trường sống của họ toàn gắn liền với rừng núi thì rừng không chỉ là tự nhiên thuần túy. Theo nhà văn hóa Nguyên Ngọc, đối với các tộc người ở Tây Nguyên, họ coi từng cây rừng đúng như một sinh vật sống chẳng hề thua kém con người, cũng có linh hồn ngang bằng con người, cũng đầy cảm xúc, vui mừng, hạnh phúc, đau đớn hệt con người. Khi buộc phải chặt hạ một cây gỗ cho nhu cầu thiết yếu của mình, bao giờ người Tây Nguyên cũng ân cần làm lễ xin lỗi cây, tạ ơn rừng.
Người Tây Nguyên sống “theo đạo đức của rừng”, quan niệm con người cần phải hiến mình như rừng. Như vậy ở Tây Nguyên, rừng là cội nguồn của đời sống tâm linh, tức phần sâu xa nhất trong con người và cộng đồng người, mất rừng thì con người và cộng đồng người mất đi cái 14 nền rộng lớn, bền chặt, sâu thẳm nhất của mình, trở nên bơ vơ, “tha hóa”, mất gốc, mất cội nguồn [22, tr. Theo quan niệm của người Dao Đỏ, “Có rừng là có cuộc sống”, rừng cung cấp gỗ lạt làm nhà, củi đun; rừng là nơi sinh ra nguồn nước sinh hoạt và làm ruộng; rừng sản sinh ra các loại rau, củ, quả. đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho các bữa ăn hàng ngày; rừng là nơi nuôi dưỡng các loại cây thuốc chữa bệnh cứu người; rừng tạo ra các bãi chăn thả vật nuôi.
Với môi trường rừng tạo ra tán che, thanh lọc không khí (mỗi lần đốt lửa lá cây rừng sẽ hút sạch khói), tạo khí hậu trong lành mát mẻ ở mùa hè; rừng chắn gió bão, lũ lụt, sạt lở, giảm thiểu thiên tai,.Rừng là biểu tượng cao cả, vĩ đại, tốt lành mà người Dao Đỏ dùng để răn dạy con cháu thông qua các câu tục ngữ, thành ngữ, chẳng hạn như: Giảm tàu pẻ phản nhần khú khí, Trỉnh tầu tải mụa khú rìa làng. Tạm dịch: Không cần cơm trắng ăn ngon Chỉ cần cây to che bóng mát. Ý của câu tục ngữ này là: chỉ cần bố mẹ có tấm lòng tốt, thương con cháu, là chỗ dựa tinh thần, che chở cho con cháu, còn hơn được ăn ngon mà thiếu đi tình thương yêu vỗ về của đấng sinh thành [26, tr. Trong khi đó, người Hà Nhì quan niệm rằng: rừng và cây rừng, con thú trong rừng điều có linh hồn như con người.Theo ghi chép của Trần Hữu, khi gieo hạt cho một vụ mùa mới, người Hà Nhì bao giờ cũng phải khấn hồn cây và thần rừng A Pố Xả Kha.
Khi vào rừng kiếm củi, hái rau, chặt cây, người Hà Nhì cũng phải cúng thần rừng, cầu xin thần cho hái rau, chặt cây. Một số 15 người chết bất đắc kỳ tử ở trong rừng cũng hóa thành loài ma ác đe dọa con người khi họ vào rừng và bị rừng trừng phạt như Xá Xí Khà Là Cộ (ma người chết do hổ vồ), Xá Xí Khà Ngú Cộ (ma người chết do gấu vồ, Xá Xí Ô Ló Tụ (ma người chết do rắn cắn). Như vậy quan niệm về rừng, nhìn nhận về rừng của người Hà Nhì vừa phản ánh mối quan hệ thân thiện hòa hợp với rừng vừa linh thiêng hóa rừng. Với quan niệm như vậy, người Hà Nhì đặc biệt quan tâm đến rừng, có thái độ kính trọng, sợ hãi hoặc chăm sóc rừng, cây rừng như đối với người thân, bề trên của mình.
Mặt khác người Hà Nhì còn tạo ra cơ chế thiêng bảo vệ rừng. Rừng linh thiêng vì trong rừng có nhiều lực lượng siêu nhiên ảnh hưởng đến đời sống con người, vì mỗi loại cây, mỗi vũng nước đều có thần chủ. Con người xâm phạm đến rừng cây, tự nhiên sẽ bị trừng phạt. Cơ chế thiêng tạo ra sức mạnh bảo vệ rừng, tạo ra ý thức tự giác, buộc con người phải tôn trọng rừng, không được phá loại rừng [27, tr.
Văn hóa rừng Từ các khái niệm “văn hóa” và “rừng” đã trình bày ở phần trên, tác giả đưa ra cách hiểu của mình về văn hóa rừng như sau: văn hóa rừng là một tập hợp các ứng xử đặc trưng gắn với hệ sinh thái rừng của các cộng đồng sở tại, được thể hiện trong quan niệm, các nghi lễ, các hình thức quản lý, khai thác và bảo vệ rừng của họ, rồi dần dần trở thành phong tục tập quán, tín ngưỡng tốt đẹp được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Giới thiệu về vùng Tây Bắc Lào 1. Vị trí địa lý, khí hậu Theo địa lý Lào, Lào được chia thành 3 miền: miền Bắc, Trung, Nam nhưng theo cục Khí tượng và Thủy văn Lào phân chia nước Lào thành 4 vùng gồm có: vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Trung và Nam. 16 Vùng Tây Bắc Lào gồm có 5 tỉnh như: tỉnh Luangnamtha, Oudômxay, Bokeo, Luangprabang, và Xayaboury, tổng diện tích là: 64.