Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT CỦA THẨM PHÁN TRONG LĨNH VỰC TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1. Các khái niệm liên quan về văn hóa pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình chính 1. Khái niệm Văn hóa và Văn hóa pháp luật Con người là từ tự nhiên mà ra, không thể tách khỏi tự nhiên để tồn tại và phát triển. Văn hóa trước hết là một sự thích nghi chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, đồng thời lại là sự phát triển của sự thích nghi ấy.
Với tính cách là một sinh vật, con người có một bản chất thứ nhất, đó là bản chất tự nhiên. Nhưng với tính cách là một sinh vật có ý thức và sống thành xã hội thì con người lại có bản chất thứ hai, đó là bản chất văn hóa, vượt ra khỏi bản chất tự nhiên, điều này đưa đến quan niệm coi văn hóa là tự nhiên thứ hai được hình thành và phát triển trên cơ sở tự nhiên thứ nhất tự tại: Là văn hóa, những gì không phải tự nhiên. Văn hóa là khái niệm có nội hàm rộng lớn, có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa về văn hóa đã được các học giả đề cập và phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1942, đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự tinh tồn [12, tr. 7 z Cách định nghĩa văn hóa này là khá toàn diện, thể hiện được sự nguồn gốc, chức năng của văn hóa, đồng thời cũng phản ánh tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, thời kỳ lịch sử này sang thời kỳ lịch sử khác của văn hóa.
Theo định nghĩa của UNESCO thì: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên nó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [23, tr. Văn hóa pháp luật là thuật ngữ dùng để mô tả mối quan hệ gắn bó khăng khít giữa các giá trị pháp luật và các giá trị về văn hóa, là tổng thể các hoạt động hàm chứa các giá trị pháp luật được hình thành trên cơ sở trí thức pháp luật, lòng tin, tình cảm đối với pháp luật và hành vi pháp lý thực tiễn. Khái niệm Văn hóa pháp luật hay nền văn hóa pháp luật vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau. TS Lê Minh Tâm cho rằng: Văn hóa pháp luật là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống qui phạm pháp luật được ban hành trong các thời kỳ lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lí, nguyên tắc, những tác phẩm văn hóa pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích lũy được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật [18, tr.
Theo quan điểm của TS Phạm Duy Nghĩa thì “văn hóa pháp luật là một cách nhìn về luật pháp, đặt pháp luật trong những tương quan đa chiều với khoa học hành vi, cách nghĩ, cách ứng xử, tôn giáo, niềm tin, các đặc tính nhân học của các cộng đồng và tộc người” [13, tr. Một quan điểm khác của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế thì: 8 z Văn hóa pháp luật là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần thuộc hệ thống tác động của pháp luật được thể hiện trong ý chí và hành vi của con người… Văn hóa pháp luật thể hiện ở trình độ cao của sự tôn trọng pháp luật, trình độ tri thức pháp luật của nhân dân; thực trạng có chất lượng của quá trình lập pháp và thực hiện pháp luật, các phương thức hoạt động pháp luật đặc thù như của các cơ quan pháp luật, kiểm tra hiến pháp…; kết quả của hoạt động pháp luật dưới dạng sản phẩm tinh thần và vật chất do con người xây dựng như luật, hệ thống lập pháp, thực tiễn tư pháp và hành pháp [15, tr. Bản thân khái niệm văn hoá pháp luật có nhiều nghĩa, được thể hiện ở: trình độ của tư duy pháp lý, trình độ cảm nhận, nhận thức về thực tiễn pháp luật; mức độ tôn trọng pháp luật; trình độ tri thức pháp luật của nhân dân; thực trạng của quá trình lập pháp và thực hiện pháp luật có chất lượng; các phương thức hoạt động pháp luật đặc thù (như của các cơ quan pháp luật, kiểm tra hiến pháp…); kết quả của hoạt động pháp luật dưới dạng sản phẩm tinh thần và vật chất do con người xây dựng như: luật, hệ thống lập pháp, thực tiễn tư pháp… Một cách tiếp cận khác về văn hoá pháp luật, theo đó, văn hoá pháp luật là quá trình và kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực pháp luật, thể hiện trong việc xây dựng, khẳng định và giữ gìn những giá trị pháp lý. Văn hoá pháp luật của cá nhân chính là trình độ ý thức pháp luật, trình độ của cá nhân về sử dụng pháp luật trong các hoạt động thực tiễn của mình.
Văn hóa pháp luật của xã hội là toàn bộ lĩnh vực vật chất và tinh thần của văn hóa pháp luật, thực tiễn pháp lý trong các giai đoạn lịch sử. Văn hóa pháp luật xã hội là trạng thái và đặc thù của ý thức pháp luật, hệ thống thông tin pháp luật, trình độ phát triển của pháp luật, trật tự pháp luật và tình trạng pháp chế trong xã hội. Đối với nhà nước và xã hội, có văn hoá pháp luật nghề 9 z nghiệp, đạo đức nghề nghiệp – một bộ phận cấu thành của văn hoá pháp luật. Các lĩnh vực của văn hoá pháp luật cũng rất đa dạng, bao gồm: văn hoá lập pháp, văn hoá trong thực hiện pháp luật; văn hoá phổ biến, giáo dục pháp luật; trong khoa học pháp lý và đào tạo luật vv… Văn hoá pháp luật có các đặc điểm của văn hoá nói chung, các đặc điểm riêng của mình và luôn có mối quan hệ mật thiết với các dạng văn hoá khác.
Mối tương quan và sự tác động giữa văn hoá pháp luật và các hình thái văn hoá xã hội khác là điều dễ hiểu vì bản thân các quy phạm pháp luật luôn nằm trong mối liên hệ với các loại quy tắc xã hội khác, các quan hệ pháp luật cũng nằm trong hệ thống các quan hệ xã hội khác. Từ các cách tiếp cận văn hóa pháp luật nêu trên, chúng ta có thể hiểu trong cơ cấu của văn hoá pháp luật có các yếu tố văn hoá cơ bản sau: pháp luật với tư cách là một hệ thống các quy phạm thể hiện ý chí nhà nước, mệnh lệnh nhà nước; các quan hệ pháp luật; các thiết chế pháp luật (như hệ thống các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội) đảm bảo sự kiểm soát pháp luật, sự điều chỉnh và sự thực hiện pháp luật; ý thức pháp luật; hành vi pháp luật. Hay nói một cách ngắn gọn, các yếu tố cấu thành của văn hoá pháp luật bao gồm: ý thức pháp luật; nền pháp luật; trình độ, kỹ năng, nghệ thuật sử dụng công cụ pháp luật. Ba yếu tố này có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, làm tiền đề, điều kiện cho nhau phát triển, sự lạc hậu, trì trệ của yếu tố này sẽ là lực cản của yếu tố kia.
Như trên đã nêu, các bộ phận cấu thành của văn hoá pháp luật là ý thức pháp luật, nền pháp luật, hành vi pháp luật và sử dụng pháp luật. Ý thức pháp luật là những tư tưởng, quan điểm, nhận thức và tâm lý, tình cảm về pháp luật của con người. Có thể nói: Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết, quan điểm, thái độ, tình cảm, sự đánh giá của con người về pháp luật trên 10 z các phương diện, tiêu chí cơ bản như: Về sự cần thiết (hay không cần thiết), về vai trò, chức năng của pháp luật, về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của các qui định pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua trong quá khứ, pháp luật cần phải có, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi của các cá nhân, nhà nước, các tổ chức xã hội [16, tr. Hệ thống pháp luật được thể hiện với ý nghĩa là các sản phẩm vật chất của ý thức pháp luật, bao gồm hệ thống pháp luật thành văn và không thành văn cũng như hệ thống tổ chức và hoạt động của các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Hành vi, cách ứng xử theo pháp luật của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày cũng như trình độ vận dụng công cụ pháp luật của Nhà nước trong quá trình quản lý xã hội là một kết quả tất yếu của quá trình nhận thức, chắt lọc kiến thức pháp luật và là yếu tố không thể thiếu được của văn hóa pháp luật. Văn hoá pháp luật chỉ bao gồm bộ phận ý thức pháp luật phù hợp với các nguyên tắc, các yêu cầu của pháp luật. Ý thức pháp luật có vị trí quan trọng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật và trong sự phát triển của nhà nước, pháp luật và văn hóa xã hội. Không có một hoạt động nào của con người lại có thể thực hiện ngoài ý thức con người, không có một quyết định văn bản pháp luật nào, không có một quan hệ pháp lý nào có thể thực hiện ngoài tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật của con người.
Ý thức pháp luật là bộ phận cấu thành cơ bản của văn hoá pháp lý, song văn hoá pháp luật chỉ bao gồm bộ phận ý thức pháp luật phù hợp đúng các yêu cầu của pháp luật. Văn hoá pháp luật chính là một trạng thái tốt của ý thức pháp luật.