Luận án TS. Ngô Thị Hương: Giữ gìn bản sắc văn hóa DTTS vùng Đông Bắc

Luận án phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2019

179
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số Đông Bắc

Bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam là tổng hòa những giá trị văn hóa độc đáo, đặc trưng của các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Mông, Dao và nhiều dân tộc khác. Văn hóa dân tộc này không chỉ phản ánh lịch sử phát triển mà còn thể hiện bản chất, linh hồn và cốt cách của mỗi dân tộc. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số là bảo tồn sự tồn tại và phát triển bền vững của các cộng đồng dân tộc. Nếu mất đi bản sắc văn hóa, dân tộc có thể mất vĩnh viễn những nét đặc trưng quý báu. Do đó, công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số trở thành nhiệm vụ cấp thiết của cả xã hội.

1.1. Định nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc

Bản sắc văn hóa dân tộc là cái cốt lõi, đặc trưng, bản chất nhất của nền văn hóa dân tộc. Nó bao gồm cả giá trị văn hóa vật thể như trang phục truyền thống, công cụ sản xuất, và giá trị văn hóa phi vật thể như ngôn ngữ, tín ngưỡng, phong tục tập quán. Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Đông Bắc hình thành qua quá trình lịch sử dài, phản ánh sự thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội của từng cộng đồng.

1.2. Tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa dân tộc

Giữ gìn bản sắc văn hóa không chỉ là bảo tồn những giá trị lịch sử mà còn bảo vệ đa dạng văn hóa của nhân loại. Văn hóa các dân tộc thiểu số Đông Bắc góp phần làm phong phú nên nền văn hóa Việt Nam. Nó cũng có ý nghĩa trong việc nâng cao đời sống tinh thần và giữ gìn bản lĩnh dân tộc cho thế hệ tương lai.

II. Thành tựu trong việc giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số hiện nay

Những năm gần đây, công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Đông Bắc đã đạt được những thành tựu đáng kể. Các giá trị văn hóa vật thể như kiến trúc nhà sàn, trang phục truyền thống được bảo tồn qua các bảo tàng và di tích. Văn hóa phi vật thể được ghi nhận và bảo vệ thông qua các chương trình liệt kê di sản văn hóa không vật thể. Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách khuyến khích các dân tộc thiểu số tổ chức lễ hội truyền thống, dạy dỗ nghề thủ công. Các cơ sở giáo dục tích cực đưa nội dung văn hóa dân tộc vào chương trình học. Cộng đồng các dân tộc cũng tăng cường nhận thức về bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc của mình.

2.1. Thành tựu bảo tồn giá trị văn hóa vật thể

Giá trị văn hóa vật thể của các dân tộc thiểu số được bảo tồn thông qua xây dựng bảo tàng dân tộc, trưng bày trang phục, công cụ sản xuất truyền thống. Kiến trúc dân tộc với nhà sàn đặc trưng được công nhận là di sản văn hóa. Các làng nghề truyền thống như dệt lụa, nhuộm tơ vẫn được duy trì và phát triển.

2.2. Thành tựu bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể

Các di sản văn hóa phi vật thể như âm nhạc, khiêu vũ, ngôn ngữ dân tộc được ghi nhận chính thức. Lễ hội dân tộc được tổ chức thường xuyên, giúp phát huy bản sắc văn hóa và kết nối cộng đồng. Tiếng nói các dân tộc thiểu số được bảo vệ thông qua chương trình giáo dục đa ngôn ngữ.

III. Những thách thức và hạn chế trong giữ gìn văn hóa dân tộc thiểu số

Mặc dù có nhiều thành tựu, công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc vẫn đối mặt với những hạn chế đáng kể. Văn hóa dân tộc ngày càng bị đe dọa bởi quá trình hiện đại hóa và hội nhập. Thế hệ trẻ các dân tộc thiểu số ngày càng ít nói tiếng mẹ đẻ và quên đi những tập tục truyền thống. Kiến thức văn hóa dân tộc không được truyền lại kịp thời cho thế hệ kế tiếp. Tình trạng kinh tế khó khăn khiến các dân tộc thiểu số phải ưu tiên kinh tế hơn văn hóa. Nguồn tài chính và đội ngũ chuyên gia để phát huy bản sắc văn hóa còn hạn chế. Nhiều giá trị văn hóa vật thể như công cụ sản xuất cũ lâm vào nguy hiểm thất truyền.

3.1. Áp lực từ hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Quá trình hội nhập đã tác động mạnh mẽ đến bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số. Các giá trị hiện đại thường được ưu tiên hơn văn hóa truyền thống. Tiếng nước ngoài được sử dụng rộng rãi, làm giảm độ quan trọng của ngôn ngữ dân tộc. Thế hệ trẻ dễ bị hút vào nền văn hóa tiêu dùng, bỏ quên bản sắc văn hóa dân tộc của tổ tiên.

3.2. Hạn chế về cơ sở vật chất và nguồn nhân lực

Các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc còn gặp khó khăn về kinh tế khiến khó đầu tư vào bảo tồn giá trị văn hóa. Số lượng chuyên gia văn hóa dân tộc còn thiếu, đội ngũ truyền dạy nghề thủ công truyền thống lão hóa. Cơ sở hạ tầng cho hoạt động phát huy bản sắc văn hóa chưa hoàn thiện.

IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số

Để nâng cao hiệu quả giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, cần áp dụng những giải pháp toàn diện và dài hạn. Trước tiên, cần nâng cao chất lượng giáo dục về bản sắc văn hóa dân tộc ở các cấp học, giúp thế hệ trẻ yêu thích và bảo vệ văn hóa dân tộc. Phát huy vai trò chủ thể của chính các cộng đồng dân tộc thiểu số trong quá trình giữ gìn bản sắc văn hóa của họ. Xây dựng đội ngũ chuyên gia văn hóa dân tộc có đủ kỹ năng để hỗ trợ. Cấp bách là đầu tư kinh tế cân xứng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn giá trị văn hóa. Tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số tiếp cận công nghệ, ghi chép và lưu giữ di sản văn hóa một cách hiệu quả, đảm bảo giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bền vững.

4.1. Nâng cao chất lượng giáo dục về bản sắc văn hóa dân tộc

Cần đa dạng hóa hình thức giáo dục về bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số trong trường học và cộng đồng. Nội dung giáo dục nên kết hợp giữa giá trị văn hóa truyền thống và kiến thức hiện đại. Tuyên truyền giữ gìn bản sắc văn hóa cần được triển khai thường xuyên qua truyền thông đại chúng. Khuyến khích thế hệ trẻ tham gia các hoạt động phát huy bản sắc văn hóa dân tộc bằng cách làm cho chúng hấp dẫn và có giá trị thực tiễn.

4.2. Xây dựng đội ngũ chuyên gia và hỗ trợ kinh tế

Các chuyên gia văn hóa dân tộc cần được đào tạo chuyên sâu để hỗ trợ giữ gìn bản sắc văn hóa. Đầu tư tài chính cho những chương trình phát huy giá trị văn hóa vật thểphi vật thể của các dân tộc. Hỗ trợ các dân tộc thiểu số trong việc quảng bá và thương mại hóa sản phẩm văn hóa truyền thống sao cho vừa bảo tồn vừa tạo thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số * Tình hình nghiên cứu về VH VH là lĩnh vực rộng lớn của xã hội, nó cũng là lĩnh vực khoa học cơ bản của khoa học xã hội và nhân văn. Nghiên cứu về VH đã được đề cập từ xa xưa trong lịch sử khoa học nhân loại.

Cho đến ngày nay, VH vẫn là đề tài vừa cơ bản vừa cấp thiết tiếp tục được các nhà khoa học, các nhà hoạt động VH, các tổ chức quốc tế nghiên cứu, mổ xẻ dưới nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, nghiên cứu VH là nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, chung nhất, xác định bản chất, cấu trúc và đặc điểm của VH. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Công trình “Văn hóa nguyên thủy” của E.Tylor [151] đã quan niệm VH là tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ năng lực và tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách thành viên của xã hội. Quan niệm về VH của Tylor như trên, thực chất chỉ đi vào một khía cạnh của VH đó là các giá trị tinh thần, còn các giá trị vật chất không được ông đề cập đến và nó nằm ngoài khái niệm VH.

Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa do UNESCO tổ chức tại Mexico từ ngày 26-7 đến ngày 6-8-1982 đã thông qua Tuyên bố chung, trong đó nêu rõ bản chất của VH là tổng thể những nét nổi bật về tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Nó không chỉ gồm nghệ thuật và văn học mà còn cả lối sống, các quyền cơ bản của con người, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng. 8 Định nghĩa về VH của UNESCO năm 1982 đã trình bày một cách có hệ thống và toàn diện các thành tố của VH theo nghĩa rộng nhất của nó. Quán triệt tinh thần cơ bản trên, nhân dịp phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988-1997) trên phạm vi toàn cầu, ngài Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đã nhấn mạnh thêm rằng: “VH là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.

Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của DT. Quan điểm của ngài Mayor thể hiện rõ bản chất của VH là hoạt động sáng tạo của con người tạo ra các giá trị, và nó làm nên đặc tính riêng của các DT để phân biệt DT này với DT khác. Như vậy, các nhà khoa học, các nhà hoạt động VH, các tổ chức quốc tế đã nhận diện VH ở các góc độ khác nhau, qua đó vấn đề bản chất của VH được bộc lộ. Có công trình tiếp cận VH theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các giá trị tinh thần, có công trình tiếp cận VH theo nghĩa rộng, bao gồm cả các hoạt động sáng tạo của con người và kết quả của hoạt động sáng tạo đó là các giá trị vật chất và tinh thần.

Trong định nghĩa VH của mình, Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra các thành tố chủ yếu tạo nên VH đó là ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh đặc trưng sáng tạo và phát minh của VH và chỉ ra mục tiêu của VH là vì sự sinh tồn và mục đích của cuộc sống con người. Mặc dầu Người không bàn sâu về VH, song hoàn toàn có thể khẳng định đó là những quan điểm có giá trị khoa học về VH. Trong Tuyển tập “Khái niệm và quan niệm về văn hóa”[41], tác giả Trần Độ đã tiếp cận VH dưới góc độ hoạt động sáng tạo của con người theo hướng chân, thiện, mỹ.

Tác giả cho rằng: “VH là những quá trình hoạt động sáng tạo của con người theo hướng chân, thiện, mỹ và các sản phẩm của hoạt động đó được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Những cái đó có tác dụng phát triển các lực lượng 9 bản chất của con người, bao gồm cả lực lượng thể chất và lực lượng tinh thần (ý thức, khả năng sáng tạo) do đó, làm cho xã hội tiến bộ”[41;16]. Công trình “Văn hóa và đổi mới”[42] của Phạm Văn Đồng đã tiếp cận VH theo nghĩa rộng nhất, theo đó VH là tất cả những gì không phải thiên nhiên, nghĩa là tất cả những gì do con người, ở trong con người và liên quan trực tiếp nhất đến con người. VH theo tác giả đó chính là những gì do con người sáng tạo ra, tất cả những gì có trong con người như tâm tư, tình cảm, tư tưởng, lý tưởng.

và cả những gì có trong mối quan hệ với con người. Đồng thời, tác giả đã khu biệt VH với thiên nhiên. Công trình “Đại cương văn hóa phương Đông”[139] do Lương Duy Thứ (chủ biên) đã tiếp cận VH theo nghĩa rộng, đó là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được hình thành, lưu truyền và phát triển qua quá trình sáng tạo của con người trong sự tương tác với môi trường VH với hình thái ý thức xã hội, mặc dù hình thái ý thức xã hội (chính trị, triết học, VH, nghệ thuật.) là một thành tố của VH. VH không chỉ bao gồm văn minh tinh thần mà còn bao gồm cả văn minh vật chất (văn vật, cảnh quan, kiến trúc.

Trong công trình này, tác giả cũng đề cập đến nội dung của VH được xác định trong VH nhận thức (nhân sinh quan, thế giới quan, triết học, mỹ học, văn học, nghệ thuật.) các thành tựu của VH ứng xử (bao gồm các thang giá trị trong cách ứng xử với thiên nhiên và ứng xử với con người, với gia đình, với xã hội.) các thành tựu của VH tổ chức đời sống (bao gồm các thang giá trị trong cách tổ chức đời sống gia đình, cộng đồng, xã hội. Như vậy, không thể coi VH là tất cả mà VH chỉ là những thành tựu được thăng hoa thành vẻ đẹp. Cũng không thể hiểu VH quá hẹp, ví dụ như nâng cao trình độ VH, thường chỉ dùng để chỉ học vấn, kiến thức. Công trình “Văn hóa, một số vấn đề lý luận”[88] của tác giả Trường Lưu, trong phần tiếp cận khái niệm, bản chất VH, tác giả đã cho rằng VH là sản phẩm cụ thể gắn với cái DT, những thành tựu và tinh hoa của nó góp vào kho tàng sáng tạo của loài người.

Ngoài tính DT, VH còn có tính nhân loại 10 phổ quát mang đậm dấu ấn nhân tính tạo nên giá trị nhân văn. Bất cứ sáng tạo của lĩnh vực nào mang tính giá trị, gắn với lợi ích con người đều bao hàm ý nghĩa nhân văn ở cấp độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp theo đặc thù của mỗi lĩnh vực. Như vậy, tác giả đã tiếp cận VH ở góc độ hoạt động sáng tạo ra các giá trị và đồng thời tác giả cũng chỉ ra tính chất của VH đó là tính DT (gắn với các điều kiện đặc thù của DT) và tính nhân loại (hướng tới các giá trị chung mang tính phổ quát). Công trình “Văn hóa và phát triển”[59] của tác giả Đỗ Huy đã lược khảo các quan niệm về VH ở phương Đông và phương Tây theo dòng lịch sử, quan niệm Mácxít và quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất của VH.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra quan niệm của mình về VH, nó chính là tổng thể các giá trị do con người tạo ra, đó là các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần và bản thân sự phát triển của con người. Tác giả cho rằng, trong VH, cả ba giá trị này đều tương tác và gắn bó với nhau. Trong các giá trị vật chất có các giá trị tinh thần và trong các giá trị tinh thần đều hàm chứa các giá trị vật chất. Trong hai giá trị đó cũng hàm chứa sự phát triển năng lực bản chất của con người.

Tóm lại, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động VH trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có sự nhận diện VH là khác nhau về độ rộng hẹp của vấn đề, về giới hạn phạm trù của các hệ thống, lĩnh vực VH; về thành tố, cấu trúc, đặc trưng của VH, về mối quan hệ giữa VH học với các khoa học khác, chứ không phải khác nhau về cái gốc, cái nền, cái tổng quát, cái đại thể của VH. * Tình hình nghiên cứu về BSVH Công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”[130] của tác giả Trần Ngọc Thêm đã vận dụng cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc kết hợp với phương pháp so sánh - loại hình để tiến hành khảo sát VH Việt Nam trong một bức tranh toàn cảnh, trên cơ sở so sánh nó với những nền VH xa (của thế giới) là VH các DT phương Tây và một nền VH gần (của khu vực) có liên hệ mật thiết là VH Trung Hoa, đồng thời chỉ ra được những mối liên hệ mang tính 11 quy luật chặt chẽ giữa các thành tố (trên bình diện đồng đại) và giữa các thời kỳ phát triển (trên bình diện lịch đại) của VH Việt Nam. Công trình đi tìm những nét bản sắc - đó là những đặc trưng cơ bản cần thiết cho việc hiểu VH Việt Nam cùng những quy luật hình thành và phát triển của chúng. Những đặc trưng đó được biểu hiện trong VH nhận thức, VH tổ chức cộng đồng, VH ứng xử với môi trường tự nhiên, VH ứng xử với môi trường xã hội.

Công trình “Bản sắc văn hóa Việt Nam”[101] của Phan Ngọc, sau khi giới thiệu định nghĩa sơ bộ về VH, tác giả đã sử dụng định nghĩa này để tìm hiểu BSVH Việt Nam. Trên cơ sở tiếp cận VH không phải ở những vật mà là hệ thống những quan hệ, tác giả đã khảo sát các yếu tố Tổ Quốc, Gia đình, Thân phận, Diện mạo một cách sơ lược trong sự khu biệt với một số VH khác để nêu bật BSVH Việt Nam. Bài viết “Văn hóa, phát huy bản sắc và hội nhập”[61] của tác giả Nguyễn Văn Huyên đã quan niệm BSVH như một tụ điểm chói sáng, chiết xuất và hội kết muôn vàn vòng sáng đa sắc của toàn bộ tinh hoa VH các sắc tộc của toàn DT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ