TRUONG ĐẠI HỌC LUAT HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỘI THẢO KHOA HỌC VAN DUNG CAC CAP PHAM TRU CUA PHEP BIEN CHUNG DUY VAT NHAM NANG CAO NANG LUC TU DUY PHAP LUAT Ha Nội - 9/2018 MỤC LỤC TEN CHUYÊN ĐÈ. “TÁC GIẢ TRANG Vai tro giáo dục và đào tao ở Trường Đại te##g học Luật vớt việ nâng cao năng lực tư, 7„na, 1 duy lý luên cho sinh viên Tư duy pháp luật và phát triển tư duy Tế pháp luật cho sinh viên Trưởng Đại hoe | ye yam nna 16 Luật Hà Nội Từ các cặp pham trù của Phép Biến chứng duy vat đến tư duy về quan hệ TS. 3 giữa các ngành luật trong hệ thông pháp | Trển Thị Hồng Ting luật ở Viet Nam hiện nay Cặp phạm trù khả năng - hiện thực đối masers: với việc nông cao nang lực tư duy biên | eins van Tường | 49 chứng của sinh viên Luật Cặp phạm trù nguyên nhên và kết quả aS vai việc nâng cao năng lực nhận thức lý | „¡up | 58 luận cho sinh viên Đại học Luật Hà Nội Van dung cặp phạm trù cái chung va cái „ riêng trong nghiên cửu về nha nước pháp. 71 Lên: R “Đào Ngọc Tuần quyển Viết Nam hiển nay Nhân thức méi quan hé giữa nội dung va Ths.
an Ch 94 hình thức trong quy phạm pháp luật Mguyễn Cấm Nhung Vai trò của phạm trù bản chất - hiện mis mm tương trong việc nâng cao năng lực nhân. Đăng Đình Thái thức hiện tượng tham nhũng. 'VAI TRÒ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT VỚI VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO SINH VIÊN PGS. Lê Thanh Thập Tom tắt: Trên cơ sở những khải niệm cơ bẩn như tư duy, tư dy kinh nghiệm, tee duy If luân, năng lực te digy Kinh nghiệm và năng lực te dy I luân tác gid phân tích về những biéu hiện của năng lực te day If lâm Từ cơ sở If Tiện đó, tác giả vân đăơng vào lầm rố vai trò của giáo duc đào tạo ở bậc đại học với việc nâng cao năng lực te diy lý luân của sinh viên.
Đỏ là nâng cao ning lực the day nhận thức I luân, nâng cao năng lực tư đụy vận đng IS liâ vào thực tiễn nâng cao năng lực phát trién If luân, nâng cao năng lực vận dung các phương pháp trong nhận thức, trong tực nn và nâng cao năng lực tie dy phân biện. Từ những nguyên tắc cinmg tác gid làm rõ một số vấn đề nâng cao năng lực tich) If hiển đối với sinh viên Đại học Luật Hà Nội Trong sự nghiệp giáo dục và đào tao ở bậc đại học, việc nêng cao năng lực tu duy lý luận đổi với người học la một yêu cầu không thé thiểu. trong công tac giáo dục chính la làm cho người học biết tự để ra cho minh những muc tiêu phan đầu, biết tự béi dung, tự rèn luyện những năng lực, phẩm chất cần thiết để ngây cảng hoàn thiện va phát triển toàn diện bản thân, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cuộc sông. Thông qua quá trình giáo dục va tự giáo dục, quá trình đảo tạo và tự dao tạo, tự rèn luyện, ning lực từ duy lý luân của các chit thể dân dan được hình thảnh vả ngày cảng được nâng cao cùng với việc nâng.
cao trì thức lý luên va trau déi, rèn luyện phương phép tư duy khoa học. Năng lực tr duy kinh nghiệm và năng lục tư duy lý luận. Tu duy lê giai đoạn cao của quá trình nhân thức, đó là giai đoạn nhận thức ly tính, nó phan ánh các sự vật, hiện tượng của thé giới khách quan vào đầu 6c con người một cách trừu tượng khái quát, gián tiếp. Nói đến tư duy la nói đến sự phan ảnh, là cái phản ánh - hình ảnh chủ quan của thé giới khách quan, nó đối lập với đối tương phân ánh, cải được phản ảnh - 1a các sự vat, hiên tượng của thé giới khách quan.
Còn nói dén tư duy của chủ thé trong quá trình nhân thức, đó 18 nói đến năng lực tử duy, năng lực nhận thức ở trình độ lý tính. Năng lực ty duy là năng lực của sự nhân thức ở trình độ lý tinh, đó là năng lực hoạt động trí tuệ của chủ thể tư duy, chủ thé nhận thức và hoạt động thực. Chủ thể tư duy, không có nghia chỉ là các cá nhân, ma có thể là một cộng. đồng người (tập thé, ting lớp, giai cấp, dân tộc, quốc gia, thâm chi là cả một thời đại).
Nhưng, mỗi cá nhân con người cụ thể lại 1a hiện thực trực tiếp của mỗi công đồng người, do đó, năng lực tư duy của mỗi công đồng déu được xem sét thông qua cá nhân vả hiện diện với tư cách là năng lực phẩm chất cá nhân. Vì vay, năng lực tư duy 1a tổng hợp những thuộc tính cá nhân, tao cho cá nhân đó có khả năng đáp ứng được yêu cầu của sự nhân thức, của việc phát triển trí thức ‘va vận dụng tn thức vao thực tiễn đạt kết quả cao. Năng lực tư duy phân theo trình đô phát triển có năng lực tư duy kinh nghiệm va năng lực tư duy lý luận. Neng lục te ảnp kink nghiệm là năng lực tư duy tiêp thụ tr thức kinh, nghiệm, năng lực bắt chước, biết duy ti và bao vé tri thức kinh nghiệm tré thành những kỹ năng, kỹ xảo.
Chẳng hạn, một người thơ sửa chữa xe máy truyén nghề cho các thy học việc những tri thức kinh nghiệm nghé nghiệp của mình, trong đó. có học trỏ tiếp thu, ghỉ nhớ, duy trì, bao vê được những tri thức kinh nghiệm, bắt chước được những thao tác, những cách xử lý tinh hudng, những kỹ năng, kỹ xảo nghé nghiệp của thay, trở thành những người kế nghiệp, nhưng có người không tiép thu được, không làm được theo kinh nghiêm của thay, phải đổi nghề. Trả thức kinh nghiệm sữa chữa xe máy của thay tích If trong 20 năm, có thé có người tiếp thu và rèn luyện trong hoạt động nghề 10 năm, có người tiếp thu và rèn luyện trong 5 năm, hoặc rút ngắn hơn nữa, để có được kinh nghiệm và tay nghề như của thay. Việc tiếp thu tri thức kánh nghiệm của thay kéo dài hay rút ngắn thời gian lả do năng lực từ duy kinh nghiệm và sự say mé, chịu khó rên rũa nghề nghiệp của từng người trỏ Năng lực tư duy kinh nghiệm không phải là năng lực sáng tạo trong nội dung và đổi mới trong phương pháp tư duy ma chủ yếu là đừng lại ở năng lực năm bắt van để nhanh hay chậm, bắt chước dựa vào tr thức kinh nghiệm như thé nào.
Tu duy kinh nghiêm mặc đủ đã mang tính trừu tượng, khái quát, gián song mới là bước đầu va còn han chế, bởi nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết về các mặt riêng rễ, về các mỗi quan hệ bên ngoải của sự vật va còn rời rac. Như vậy, với tư duy kinh nghiệm, chưa thể nắm bat được cái bản chất, cái tat yếu sâu sic "bên trong chỉ phối sự tổn tại, vận đồng và phát triển của các sư vất, hiện tượng Cho nên "sự quan sát dua vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thé chứng minh được day đủ tính tat yếu”, Nếu chỉ đừng ở mức đô tôn sig kinh nghiệm thì tất yêu sẽ dẫn đến nhất nhất chỉ nghe theo những người có b dây kinh nghiệm hơn vả lời nói của những người có kinh nghiệm sẽ được coi là chân lý. Theo đó, người cảng lam việc lâu năm, cảng giả cảng có kinh nghiệm, nên thé hệ sau phải tuên theo lời nói, suy nghĩ cia các thé hệ trước và cổ khuôn suy nghĩ của minh theo cách suy nghĩ của các thé hé trước. Còn thé hệ trước thi tự cho mình quyển áp đất tư trỡng, quan điểm theo kinh nghiệm của minh va ho rat khó chịu, không hài lòng, bực bội khi thé hệ sau không chiu nghe theo sự “chi ba khó chấp nhân sự sáng tạo của những người đi sau.
Đây cũng chính là nguồn gốc của từ tưởng "độc quyền chân lý", của chủ nghĩa chủ quan đuy ý chí, của sư “bao cấp” về tư duy. Theo lối tư duy đó, cắc thé hệ sau chỉ biết trông chờ, ÿ lại và chi biết rép khuôn theo suy nghĩ của các thể hệ trước để được chấp nhận, dé được khen “ngoan”, không dam và thâm chí không được quyển sing tao dấn đến ngại suy nghĩ, ngai bay tö ý +iến, ngại tranh luận để đi đến chân ý. Nguồn gốc sêu xa tao nên truyền thống tư duy kinh nghiệm 6 người Viết Nam chính là nên sản xuất tiễn nông đã tổn tại hang ngắn năm trong lich sử dân tộc. Đồng thời, nó còn được duy tri bởi hình thức sinh hoạt công đồng làng x ˆ E Mác vì Ragen: Tonto.
Chính vi quốc gh, Hi NG, 1904 2.200718, 3 của cu dân nông nghiệp, khất khe, ti trê, thêm vào đó, no lại được cũng cổ bởi hệ tư tưởng Nho giáo bảo thi cũng đã du nhập vao nước ta từ rất lâu đồi. Tu duy kinh nghiệm, tuy có nhiễu han chế song cũng có những thé manh. nhất định, đó là tinh thực tế và thiết thực, trong đó rat quan tâm đền tính hiệu. quả, đủ là hiệu quả nhỏ bé, trước mắt (nhiêu khi không tránh khỏi tính th cân, chi biết cái bộ phén ma đánh mắt cải toàn cục -"tham bat bổ mâm”), tuy vậy, cũng con hơn la suy nghĩ viễn ving phi thực tế.
Theo đánh giá của nhiễu nhả nghiên cứu, từ duy truyền thống của con người Việt Nam mới đạt tới trình độ tw duy kinh nghiệm nên trong câu trúc đã có sự thiếu hụt lớn, sự thiểu hụt đó, như Giáo sư, Viện i Nguyễn Duy Quý nhận xé: "Một là: thiểu hụt một nên tư duy lý luận va hai lê, thiếu hụt một nên tư duy khoa học dân tộc. cho nên vẫn không vượt bỏ được trình độ tư duy kinh nghiệm tiễn khoa học va thêm chi, chủ nghĩa kinh nghiệm tiên khoa học ngày cảng được cũng cổ duy ti"? ‘Muén hiểu biết một cách sâu sắc vé bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan vả có thé chỉ ra được sự van động của sự vật trong tương lai, những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn không thể dừng lại ỡ tư duy kinh nghiệm mà phải phát triển lên trình độ tư duy lý luận Thực tế, người Việt Nam chưa có truyền thông tư duy triết học, tư duy lý luận theo đúng nghĩa của nó, điểu dé khiến ta cảng thấm tha câu nói của Ph Angghen: ". một dân tộc muốn đứng vũng trên đỉnh cao của khoa học thi không thể không có tư duy lý luận"”.