CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG VÀ THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 1. Kinh tế thị trường và cơ chế kinh tế thị trường 1. Khái niệm, đặc điểm chung của kinh tế thị trường 1. Khái niệm kinh tế thị trường Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về KTTT và hình thức (loại hình, mô hình) KTTT.
Theo Paul Sammuelson, KTTT là “một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó, cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai?”. Hay “Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường”.327] KTHH là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để trao đổi, để bán trên thị trường chứ không phải cho người trực tiếp sản xuất ra nó. Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình tái sản xuất (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng), sản xuất như thế nào và cho ai đều thông việc mua bán, thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định. Mục đích của người SXHH không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của mình mà nhằm trao đổi, để bán, tức là để thỏa mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Ngược lại, nhu cầu của họ là những kết quả mà họ có được sau khi mang hàng hóa ra trao đổi. KTHH và KTTT có cùng bản chất (vì sản xuất đều nhằm mục đích trao đổi, mua bán) nhưng khác nhau về trình độ phát triển. Có thể thấy KTHH phát triển đến một mức độ nhất định (trình độ cao) thì đó là KTTT hay cụ thể hơn, khi các yếu tố của KTHH (cung cầu, giá cả, thị trường, tiền tệ, hàng hóa…) đã phát triển và hoàn thiện, khi các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hóa, thương mại hóa thì khi đó người ta gọi là KTTT. Chẳng hạn, trong KTHH, đặc biệt là SXHH giản đơn, khái niệm thị trường dùng để chỉ một không gian, thời gian cụ thể mà người mua và người bán gặp nhau một cách trực tiếp.
Nhưng trong KTTT, khái niệm thị trường đã được mở rộng cả về không gian, thời gian và cơ cấu thị trường. KTTT ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài, đầu tiên là SXHH giản đơn. SXHH giản đơn là SXHH của nông dân, thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân họ. Đây là một kiểu sản xuất nhỏ, dựa trên kĩ thuật thủ công lạc hậu, năng suất lao động thấp.
Trong SXHH giản đơn mặc dù mục đích sản xuất sản phẩm để trao đổi, tiền tệ đã xuất hiện nhưng mục tiêu cuối cùng của người sản xuất vẫn là giá trị sử dụng chứ không phải là tiền, lợi nhuận. SXHH phát triển và tiền tệ ra đời, đánh dấu sự phát triển vượt bậc nền kinh tế xã hội. Đồng thời, dưới tác động của tiến bộ khoa học, kỹ thuật, của lực lượng sản xuất; sản xuất, lưu thông trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển và kéo theo đó là sự xuất hiện ngày càng đa dạng các loại thị trường; CCTT hoạt động ngày càng linh hoạt, rộng khắp. Khi nền kinh tế vận động theo CCTT được gọi là nền KTTT.
Như vậy, trên góc độ vận hành KTTT là nền KTHH vận động theo CCTT. Trước đây, khi nghiên cứu sự vận động của SXHH và KTTT tư bản, Mác khẳng định rằng quá trình hình thành KTTT kéo dài hàng nghìn năm từ cuối xã hội Công xã nguyên thủy đến giữa thế kỷ XV, TKQĐ từ xã hội phong kiến sang CNTB. KTTT phát triển đến đỉnh cao trong CNTB, tuy nhiên nó không phải là sản phẩm riêng có, đặc thù của xã hội đó mà đây là thành tựu chung của sự phát triển nền sản xuất xã hội, của nhân loại. KTTT luôn vận động, biến đổi gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định và tính chất của các quốc gia, các xã hội.
Ở giai đoạn đầu hầu hết các nền KTTT đều vận động, phát triển một cách tự phát, tự do điển hình như các nước Tây Âu, Mỹ. KTTT với việc phát huy những ưu điểm của nó đã giúp nhân loại có những bước phát triển, tiến bộ vượt bậc. Tuy nhiên, KTTT và CCTT cũng có những hạn chế lớn, đồng thời cũng làm phát sinh nhiều mâu thuẫn, đặc biệt về các vấn đề xã hội như cạnh tranh không lành mạnh, phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp. từ đó làm xuất hiện nhiều mô hình mới như “KTTT Xã hội phúc lợi” (Thụy Điển), “KTTT xã hội” (Cộng hóa Liên bang Đức), “Kinh tế thương lượng“ (Bắc Âu), “KTTT XHCN mang màu sắc Trung Quốc”.
Đặc điểm chung của kinh tế thị trường KTTT có chịu sự chi phối bởi bản chất của các chế độ xã hội. Tuy vậy, với tư cách là một hình thức tổ chức kinh tế tồn tại khách quan nên nó đều có tính chất chung. Cụ thể: Một là, tính độc lập cao của các chủ thể trong nền kinh tế. Nền KTTT đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
Các chủ thể này hoàn toàn độc lập, tự chủ trong việc quyết định lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, liên kết hay hợp tác với các chủ thể khác trong kinh doanh. Nói cách khác họ hoàn toàn có quyền quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Họ tự chịu trách nhiệm đối với quyết định sản xuất kinh doanh (SXKD) của bản thân dựa trên những tín hiệu thị trường theo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lợi nhuận. Hai là, giá cả các loại hàng hóa, dịch vụ nói chung do thị trường quyết định, hình thành một cách tự phát trên thị trường. Giá cả với tư cách là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị trước hết do giá trị quyết định.
Ngoài ra, giá cả còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như cung – cầu, giá trị tiền tệ (hay sức mua tiền giấy), chính sách kinh tế của nhà nước, vị trí hàng hóa trên thị trường… Tất cả các yếu tố này về cơ bản đều mang tính khách quan và tác động một cách khách quan đến giá cả hàng hóa. Việc can thiệp thô bạo của con người đến giá cả làm méo mó, lệch lạch các tín hiệu của thị trường, do đó phản ánh sai lệch quan hệ cung – cầu, chi phí sản xuất…nói cách khác làm cho nền KTTT kém hiệu quả, thậm chí sụp đổ. Ba là, KTTT là một hệ thống đồng bộ các yếu tố, các thị trường và thể chế tương ứng. Mọi nền KTTT đều có sự tham gia của các chủ thể hay khách thể vận động trên thị trường là người bán, người mua (đại diện cho người sản xuất và người tiêu dùng), hàng hóa, tiền tệ.
Đồng thời KTTT cũng đòi hỏi có đầy đủ các loại thị trường (thị trường đầu vào, thị trường đầu ra) và các yếu tố thị trường như thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường đất đai và bất động sản, thị trường lao động, thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán), thị trường khoa học công nghệ và các thị trường khác. Để nền KTTT hoạt động hiệu quả, phải bảo đảm sự hiện diện đầy đủ của tất cả các thị trường nói trên cũng như các thị trường phải vận hành đồng bộ, thông suốt, linh hoạt. Để đáp ứng hai yêu cầu này, việc hình thành và phát triển các thị trường phải tuân theo một trật tự, bước đi xác định. Việc không tuân thủ trật tự đó (ví dụ xây dựng thị trường vốn, thị trường chứng khoán nhưng hệ thống các quyền tài sản không xác định rõ, thị trường đất đai không được thừa nhận chính thức…) thường dẫn đến sự rối loạn, vận hành kém hiệu quả của từng thị trường chức năng và của cả nền kinh tế.
Bốn là, cơ chế vận hành căn bản của nền KTTT là cạnh tranh tự do, không có cạnh tranh không thể nói đến KTTT. Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh thông qua sự tác động, chi phối của các quy luật thị trường khách quan hay còn gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc. Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền KTTT.
Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn. Thực tế xác nhận rằng cho đến nay, sau khi nền kinh tế đã vượt qua trình độ kinh tế nông dân tự cấp - tự túc, cạnh tranh là cơ chế phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhất. Năm là, sự điều tiết của nhà nước. Cả về lý luận và thực tiễn sự ra đời, tồn tại, vận động phát triển KTTT không liên quan gì đến nhà nước.
Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII các nhà kinh tế học của trường phái Kinh tế chính trị tư sản Cổ điển dù ở Anh hay Pháp (tức ở những nước có nền KTTT phát triển sớm nhất) đều thống nhất phủ nhận vai trò nhà nước. Tư tưởng “bàn tay vô hình” của A. Smith (người Anh) thể hiện rõ quan điểm này. Đồng quan điểm với A.
Ricardo (người Anh) ví nhà nước là “kẻ gác vườn”. Say (người Pháp) khẳng định “nhà nước là kẻ quản lý tồi”. Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm lớn và cơ bản, trong nền KTTT hiện đại thị trường có những khuyết tật và CCTT có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển. Ví dụ, lạm phát, khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường,… làm cho nền KTTT kém hiệu quả và nảy sinh những xung đột xã hội.
Để khắc phục những khuyết tật và tránh khỏi thất bại thị trường, nhà nước phải tham gia quản lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế.